Tài Liệu Hội Thánh Của Ta(Phần 1)

HỘI THÁNH BÁP TÍT PHỤC HƯNG
FALLS CHURCH – VIRGINIA

TÀI LIỆU HỌC TẬP NỘI BỘ –2010

TÍN ĐỒ BÁP TÍT VÀ HỘI THÁNH BÁP TÍT

Dành riêng cho những tín đồ của Chúa mới gia nhập hệ phái Báp Tít.

HỘI THÁNH CỦA TA

Gordon Johnson

Lời nói đầu

Thật được khích lệ khi biết rằng quyển sách này đã ra đời được bốn thập kỷ. Nó được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1957 như là tài liệu huấn luyện lãnh đạo cho Hội Báp-tít Liên Hiệp. Chẳng bao lâu sau nó được các mục sư và những nhà lãnh đạo Hội Thánh dùng trong các lớp Kinh Thánh cho tân tín hữu và giúp mọi người hiểu đúng hơn về Hội Thánh Báp-tít. Có một vài trường hợp nó trở thành một phần giáo trình trong các chủng viện và các trường Kinh Thánh. Việc sử dụng nó đã vượt quá phạm vi của Hội Báp-tít Liên Hiệp và cả các biên giới nước Mỹ. Một bản hiệu đính đã được thực hiện năm 1973. Vào những năm sau đó, các bản cập nhật các con số thống kê mới nhất đã được thực hiện. Vì cớ sự đòi hỏi việc hoàn thiện cuốn sách cứ tiếp tục, các nhà xuất bản đã thực hiện một bản hiệu đính đầy đủ hơn. Mặc dầu các giáo lý cơ bản trong sách vẫn được giữ nguyên, nhưng tình hình Hội Thánh và xã hội đã có những biến chuyển quan trọng. Tôi đã cố gắng thể hiện một vài trong số những thay đổi đó vì chúng liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau được đề cập trong sách. Tôi luôn cầu nguyện rằng Chúa của chúng ta sẽ tiếp tục sử dụng quyển sách này trong tư tưởng của những người muốn hiểu biết rõ hơn về Hội Thánh Báp-tít. Tôi cũng hy vọng rằng nó sẽ rất hữu dụng cho nhiều anh em Báp-tít ngoài Hội Báp-tít Liên Hiệp. Cuốn sách đã được viết với tinh thần đó. Tựa sách, HỘI THÁNH CỦA TA, có ý nghĩa và mục đích lưỡng diện. Đức Chúa Jêsus phán, “Ta sẽ lập Hội Thánh của ta.” Đây là Hội Thánh của Chúa. “Hội Thánh của Ta” là lời khẳng định của Ngài. Chúng ta cần nhớ điều này vì đây là sự nhấn mạnh đầu tiên của sách. Hơn nữa, là một người Báp-tít, tôi có thể nói với sự vui mừng và sự ca ngợi rằng, “Đây là Hội Thánh của tôi,” khi tôi suy gẫm về những sự dạy dỗ của sách này. Tựa sách ám chỉ đến phẩm chất vừa thiên thượng, vừa con người của Hội Thánh. Hội Thánh thuộc về Chúa chúng ta. Ngài sống trong lòng Hội Thánh. Nhưng chúng ta, những tạo vật, là Hội Thánh. Đó là sự vinh hiển của Hội Thánh. Một tác phẩm như thế này luôn luôn là kết quả sự dự phần của nhiều người, là những người đã chia sẻ công việc. Việc đọc nhiều sách vở, sự liên hệ cá nhân với sự sống của Hội Thánh, sự tương tác với các lãnh đạo Hội Thánh của nhiều cộng đoàn khác nhau và các cuộc phỏng vấn quốc tế đã ảnh hưởng đến việc viết sách rất nhiều. Thật không thể nào liệt kê hết tất cả những người đã đóng góp những ý tưởng rất bổ ích trong suốt nhiều năm qua. Cũng cần phải cảm tạ một số người đã dự phần trong bản hiệu đính hiện thời của sách. Ông Bob Putman thuộc Nhà Xuất Bản Harvest đã đóng góp những phương pháp đầy ý nghĩa trong công tác thu thập và xuất bản. Ông John Cionca ở Chủng viện Bê-tên đã cẩn thận xem xét lại cả quyển sách và đưa ra những gợi ý cũng như các sửa đổi rất có giá trị. Ông Leith Anderson đã thật tốt bụng khi cẩn thận xem xét lại bản thảo và đã viết lời giới thiệu cho sách. Vợ tôi, Alta, đã đánh bản thảo vào máy tính và dàn trang sách. Những cuộc phỏng vấn với một vài mục sư đã đem đến sự sâu sắc cho tác phẩm về Hội Thánh từ một góc nhìn thực tiễn. Tôi xin chân thành cám ơn những người này và nhiều người khác nữa. Tôi cầu nguyện để quyển sách nhỏ này có thể đến với nhiều độc giả và giúp nhiều người khác hiểu biết Hội Thánh rõ ràng hơn.

LỜI GIỚI THIỆU

Rải khắp thế giới có rất nhiều Hội Thánh Báp-tít từ hai, ba thành viên cho đến hàng chục ngàn người. Hệ phái Tin Lành đông đảo nhất ở Mỹ chính là Báp-tít. Những người Báp-tít nhóm họp nhau ở những nơi thuê mướn, trong các phòng khách, những bãi đất trống giữa rừng, và trong những nhà thờ xây theo kiểu thánh đường. Những người Báp-tít nằm trong số những hệ phái bao gồm cả chủng tộc, ngôn ngữ, và vị trí kinh tế xã hội. Chúng tôi là một dân đa dạng. Có lẽ thật dễ dàng nhận thấy những sự khác biệt của chúng tôi, mặc dầu có một sức mạnh lớn trong sự đa dạng và linh động kiểu Báp-tít. Đừng để bị đánh lừa bởi những sự khác biệt. Có một tâm điểm cho những tín lý và lễ nghi Báp-tít mà nơi đó hết thảy chúng tôi, là những Cơ Đốc nhân được tái sanh, đều hiệp nhất. Chúng tôi đến với những Hội Thánh địa phương với sự tận hiến cao độ cho Đức Chúa Jêsus Christ là Cứu Chúa và là Chủ của chúng tôi, và lòng trung thành với Kinh Thánh như là nguyên tắc cho đức tin và lối sống. Hội Thánh Của Ta cung cấp những lẽ thật và các truyền thống của những người Báp-tít để duy trì và làm cho vững mạnh thêm. Đây không phải là “một cuốn sách của nội quy” giống như một số hệ phái khác có. Nó cũng không phải là một lời tranh biện để thuyết phục tín hữu thuộc các hệ phái khác gia nhập Báp-tít. Đây là một cuốn sách hướng dẫn đơn sơ nhưng mạnh mẽ để hiểu làm thế nào những người Báp-tít đã cẩn thận chuyển những lời dạy dỗ của Kinh Thánh thành hành động trong sinh hoạt Hội Thánh. Ông Gordon Johnson đặc biệt thích hợp để trở thành người hướng dẫn chúng ta. Ông đã chăn bầy tại các Hội Thánh từ Montclair, New Jersey, đến San Diego, California. Là viện trưởng Chủng viện Thần Học Bê-tên ở St. Paul, Minnesota, ông đã dạy cho cả một thế hệ chủng sinh sau này trở thành các mục sư, giáo sĩ và những người lãnh đạo các Hội Thánh Báp-tít trên khắp Bắc Mỹ và khắp thế giới. Đặc biệt hữu ích là nhận thức của ông về lịch sử lẫn truyền thống đi đôi với nhận thức về những khuynh hướng và những vấn đề đương đại. Ông rất yên tâm vì các nguyên tắc Báp-tít vẫn được duy trì dầu nhiều Hội Thánh đã thay đổi; các phương pháp được cập nhật trong khi các nghi lễ vẫn giữ nguyên. Khi bạn đọc 13 chương sắp tới, hãy xem xét một vài lời khuyên dưới đây: Đặt Kinh Thánh lên hàng đầu. Hội Thánh Của Ta không phải là Kinh Thánh. Nó là một nguồn tài liệu giúp áp dụng Kinh Thánh vào các Hội Thánh Báp-tít. Khi đến những phần Kinh Thánh trưng dẫn, hãy mở ra đọc và suy gẫm cho chính bạn. Hãy luôn quay trở lại với Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời cho cả các Cơ Đốc nhân lẫn Hội Thánh. Nói cách khác, hãy đọc Hội Thánh Của Ta cùng với quyển Kinh Thánh bên cạnh. Hãy quyết định cho chính bạn. Bạn sẽ thấy rằng một niềm tin mạnh mẽ của những người Báp-tít là mỗi cá nhân chúng ta thảy đều chịu trách nhiệm giải trình trước mặt Đức Chúa Trời. Đừng tin vì cớ tác giả nói như thế. Đừng đọc cách thờ ơ rồi nói, “Tôi chỉ làm điều này như một việc được giao mà thôi.” Hãy lựa chọn những quyết định cách cẩn thận và có sự cầu nguyện cho riêng bạn để những thông tin sẽ được biến thành niềm tin vững chắc. Hãy đối chiếu với Hội Thánh của bạn. Bạn sẽ thấy có nhiều khác biệt. Mỗi Hội Thánh đều khác nhau. Hãy quyết định khám phá hội chúng của bạn trong sự soi sáng của Thánh Kinh và sự diễn giải trong sách này. Hãy chắc rằng một số khác biệt có thể làm bạn cảm thấy khó chịu. Với tình yêu thương và sự chịu đựng Cơ Đốc, hãy chuẩn bị chấp nhận những khác biệt trong khi bạn hầu việc Đức Chúa Trời để tiếp tục hướng Hội Thánh của bạn đến Lời Chúa. Cuối cùng, hãy vui thích chia sẻ sự hiệp thông với hàng chục triệu tín hữu Báp-tít ở khắp nơi trên thế giới ngày hôm nay và xuyên suốt lịch sử. Chúng ta cùng nhau sống vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời trong mỗi thế hệ. Leith Anderson Eden Prairie, Minesota Nguồn sức mạnh của Hội Thánh Hội Thánh là một tổ chức thật kỳ lạ. Hội Thánh đã tồn tại và phát triển mạnh suốt các thời đại. Hội Thánh đã và đang bị bắt bớ, chống đối, nhưng không hề bị phá hủy hoàn toàn. Nhiều lúc Hội Thánh đã phải chịu đựng những kẻ thù bên ngoài và cả những hỗn loạn bên trong, nhưng vẫn đứng vững. Chúng ta đã minh chứng điều này bằng những phương cách thật ngoạn mục trong thế kỷ thứ 20. Chế độ Cộng sản thuộc khối các quốc gia phương Đông đã triệt khử Hội Thánh trong suốt 70 năm. Những người cai trị Đức Quốc xã từ năm 1933 đến 1945 cũng tận dụng những tay sai trong Hội Thánh hay bắt bớ những thành viên Hội Thánh nào chống đối lại những hành động bạo tàn bọn chúng áp đặt lên xã hội. Ngày nay, trên cả hai bình diện, Hội Thánh vẫn sống sót và phát triển. Một cuộc nghiên cứu gần đây của Trung Tâm Nghiên Cứu Tư Tưởng Quốc Gia (National Opinion Research Center) tại trường đại học Chicago, cùng với Trung Tâm Trưng Cầu Dân ý Nga (Russian Center for Public Opinion Research Center) tại Moscow, đã cho ra những kết quả đầy kinh ngạc. 2964 bảng câu hỏi được thu hồi vào năm 1991. Chúng cho thấy rằng một cuộc phấn hưng tôn giáo chưa hề có trong lịch sử hiện đại đang quét ngang nước Nga. Sau 7 thập kỷ trong tình trạng vô thần, cứ ba trong số bốn người Nga khẳng định lòng tin tuyệt đối hay rất lớn nơi Hội Thánh. Mức độ lòng tin đó cao gần gấp đôi so với bản báo cáo ở Mỹ. 22%, bao gồm gần 1/3 những người dưới 25 tuổi, nói rằng họ đã từng là những người vô thần, bây giờ trở lại tin nơi Đức Chúa Trời. Đây là một trong những sự biến chuyển khổng lồ đã từng có trong lịch sử Cơ Đốc giáo. Đó chính là sự thể hiện sức mạnh của Hội Thánh. Hội Thánh đã bị chống đối. Hội Thánh đã bị bắt bớ. Nhưng Hội Thánh vẫn tồn tại và hiện nay đang phát triển. Đây mới chỉ là một minh họa cho sức mạnh của Hội Thánh. Làm thế nào chúng ta có thể giải thích về sức mạnh của Hội Thánh? Bất cứ một tổ chức bình thường nào khác chắc chắn đã chết. Không một tổ chức loài người nào có khả năng chịu đựng để vượt qua sự chống đối và áp lực như là Hội Thánh phải chịu. Hội Thánh nhận lấy năng lực từ đâu? Đó là điều chương này đề cập đến.

VỊ TRÍ CỦA KINH THÁNH

Sức mạnh của Hội Thánh đến từ một thẩm quyền vượt xa hơn chính nó. Phẩm chất chịu đựng của Hội Thánh không đặt nền tảng trên sự tổ chức thông minh hay những nỗ lực đầy sáng tạo của con người. Có một quyền năng nằm ngoài thế giới trần tục đã khiến cho Hội Thánh trở thành như vậy. Quyền năng đó là thẩm quyền của Kinh Thánh. Chúng ta hãy cùng xem xét quyển sách này. Trước hết, hãy lưu ý đến sự đầy đủ của Kinh Thánh. Kinh Thánh mang đến đủ mọi lẽ thật cho đức tin và đời sống chúng ta. Nó thật đầy đủ vì đã được hà hơi cách thiêng liêng. Ngay cả việc khảo sát một phân đoạn Kinh Thánh ngẫu nhiên thôi cũng đủ làm chúng ta hết sức ngạc nhiên. Những dữ kiện đơn giản về Kinh Thánh làm chúng ta xúc động bởi sự vinh hiển của nó. Kinh Thánh được viết trong khoảng 1500 năm bởi khoảng 40 trước giả khác nhau, từ những bối cảnh khác nhau. Nhưng qua tất cả những điều đó, Kinh Thánh có sự nhất quán. Sự nhất quán đó có thể được khảo sát theo nhiều cách. Công việc của Đức Chúa Trời là Đấng Sáng Tạo mọi sự vật được ghi nhận xuyên suốt Kinh Thánh. Công việc của Đức Chúa Trời trong việc lựa chọn và dẫn dắt dân sự của Ngài, dân Y-sơ-ra-ên, được ghi nhận liên tục như một sợi chỉ xuyên suốt Kinh Thánh. Công việc của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ đã được chuẩn bị trong Cựu Ước và được hoàn tất trong Tân Ước. Đức Chúa Trời đã đang làm việc trong và qua dân sự thuộc riêng của Ngài trong Cựu Ước và rồi tiếp tục công tác đó trong và qua Hội Thánh của Ngài trong Tân Ước. Việc Đức Chúa Trời thực hiện sự giải hòa con người với Ngài là đề tài chính của Kinh Thánh. Sứ điệp của Kinh Thánh đã thay đổi đời sống của vô số người và các xã hội trải qua các thời đại, và chúng ta buộc phải nói rằng, “Chỉ Thánh Linh Đức Chúa Trời mới có thể ban cho một cuốn sách như vậy.” Các trước giả được sự hướng dẫn của Thánh Linh khi họ viết. Kinh Thánh thật sự trở thành một bức thư cá nhân Đức Chúa Trời gửi cho chúng ta, là con loài người. Ngài phán với chúng ta và với Hội Thánh Ngài qua Kinh Thánh. Chúng ta nhận ra rằng không phải tất cả mọi phần trong Kinh Thánh đều có tầm quan trọng như nhau, nhưng mà hết thảy đều được linh ứng như nhau. Chúng ta thấy một sự minh họa cho điều này trong thế giới vật lý. Con mắt đối với thân thể có tầm quan trọng hơn nhiều so với amiđan, nhưng cả hai đều là các bộ phận của thân thể Đức Chúa Trời đã tạo dựng. Có những phần nhất định trong Kinh Thánh đối với sự sống của Hội Thánh thì ít quan trọng hơn những phần khác, nhưng tất cả đều được linh ứng như nhau. Kinh Thánh là sách hướng dẫn đầy đủ nhất cho sự sống của Hội Thánh và cho đời sống cá nhân của mỗi chúng ta. Thứ hai, hãy lưu ý tính chắc chắn của Kinh Thánh. Các học thuyết khoa học và triết học luôn luôn hướng đến chỗ hiệu đính lại. Các tín điều và giáo lý (những lời tuyên bố có thẩm quyền về những niềm tin và các tín lý) của Hội Thánh cũng vậy, vốn đã thay đổi suốt các thời đại. Nhưng Lời Đức Chúa Trời thì không. Lời đó rất chắc chắn. Lời đó không thể thay đổi được. Chúng ta có thể khám phá ra thêm lẽ thật bên trong Kinh Thánh, và chúng ta có thể thấy nhiều quan điểm mới dựa trên lẽ thật Kinh Thánh hàm chứa, nhưng lẽ thật ở đây đã được ban cho một lần đủ cả. Đức Chúa Jêsus phán, “Trời đất sẽ qua, nhưng lời ta nói chẳng bao giờ qua đi” (Ma-thi-ơ 24:35). Tính chắc chắn của Kinh Thánh đem đến sự xác tín trong kinh nghiệm Cơ Đốc của chúng ta và trong chức năng của Hội Thánh. Thứ ba, hãy lưu ý đến thẩm quyền của Kinh Thánh. Lời Kinh Thánh có một thẩm quyền mà không một tác phẩm văn chương hay quyển sách nào khác trên thế giới có được. Điều này không lệ thuộc vào bất cứ thứ gì bên ngoài. Không một tòa án nào có thể mang đến thẩm quyền đó cho Kinh Thánh bằng các sắc lệnh hay quyết định. Các giáo hội nghị trên đất vào thế kỷ thứ hai, thứ ba và thứ tư cũng không. Họ đã dựa vào Kinh Thánh để thiết lập nền tảng cho các tín điều và các giáo lý, những điều họ muốn có sự chi phối trên Hội Thánh. Một tác giả nói, “Chỉ đơn giản là họ đã nhìn nhận thẩm quyền của chính Kinh Thánh. Sự hình thành Kinh Thánh dưới quyền của Đức Chúa Trời tự nó đã đứng vững. Thật rõ ràng là tác phẩm năng động và đầy quyền năng này đã được ban cho trong sự nhất quán cần thiết và có hệ thống vì toàn thể Kinh Thánh đã được tạo nên bởi chính sự sống phổ quát và quyền năng của Đức Chúa Trời.” Có một sức mạnh bên trong Kinh Thánh khiến chính Kinh Thánh bắt phục nhân loại. Đó là một sứ điệp thiêng liêng vốn không thể tránh né được. Martin Luther, một nhà cải chánh Tin Lành vĩ đại, thấy rằng chính mình đã bị buộc phải đầu phục thẩm quyền của Kinh Thánh hơn là của Hội Thánh hay giới lãnh đạo Giáo Hội. Càng khảo cứu về Lời Chúa, về những điều ông tin quyết, và mối tương giao giữa ông với Chúa và với Hội Thánh bao nhiêu, ông càng bị thúc ép phải chống lại những lời tuyên bố của Giáo Hoàng, vốn được xem như là có thẩm quyền ngang với Kinh Thánh. Ông không muốn rời bỏ Giáo Hội. Ông muốn trung thành với Giáo Hoàng và với các công đồng. Nhưng cuối cùng, ngay trung tâm cuộc tranh chiến của ông với lẽ thật, ông bị dồn vào một góc. Ông đã phải thừa nhận rằng các công đồng và Giáo Hoàng đã sai lầm. Chính vì điều này ông lựa chọn đứng trên thẩm quyền của Lời Đức Chúa Trời. Ông đưa ra lời chứng lại trong lúc bị xét xử như sau: “Trừ khi tôi được thuyết phục bởi lời chứng của Kinh Thánh hoặc bởi một lý do rõ ràng – vì tôi không phó mình cho Giáo Hoàng cũng như cho một công đồng riêng lẻ nào, vì thật rõ ràng là họ thường mắc sai lầm và mâu thuẫn với chính mình – tôi luôn đứng về phía Kinh Thánh, trước bản thân và lương tâm, tôi khẳng định rằng mình đã trở thành ‘tù nhân’ của Kinh Thánh. Tôi không thể và cũng sẽ không rút lại bất cứ thứ gì chỉ vì nó không an toàn hay chống lại lương tâm tôi. Tôi không thể làm khác hơn. Nguyện Chúa giúp tôi. Amen.” Không có một cuốn sách nào khác có đủ thẩm quyền cho Hội Thánh hay cho bất cứ một tôn giáo thật nào. Các tôn giáo khác đều có những sách của họ, chẳng hạn như giáo hội Mormon có Sách Mormon (Book of Mormon). Mary Baker Eddy, người sáng lập Khoa Học Cơ Đốc, đã viết quyển Khoa Học và Sức Khỏe với Chìa Khóa của Thánh Kinh (Science and Health with Key to the Scriptures) năm 1875. Bà ngụ ý rằng Kinh Thánh là một kho báu bị lạc mất mãi cho đến khi có sự diễn giải của bà. Sự ám chỉ này trái ngược với tất cả những gì chúng ta biết về Kinh Thánh và điều Đức Chúa Trời đã làm cho nhân loại. Chúng ta không cần phải có những chiếc chìa khóa đặc biệt của con người để hiểu sứ điệp thiết yếu mà Đức Chúa Trời bày tỏ cho những con người có trách nhiệm xuyên suốt Kinh Thánh. Kinh Thánh là thẩm quyền cho chức năng của Hội Thánh. Kinh Thánh hướng dẫn sự sống của Hội Thánh. Nhưng trên tất cả, Kinh Thánh hướng chúng ta đến Đấng Christ, Lời Hằng Sống của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Jêsus đã phán với những người Pha-ri-si và các thầy dạy luật như vầy: “Các ngươi dò xem Kinh Thánh, vì tưởng bởi đó được sự sống đời đời. Ấy là Kinh Thánh làm chứng về ta vậy. Các ngươi không muốn đến cùng ta để được sự sống” (Giăng 5:39-40). Mục đích tối hậu của Lời được viết ra của Đức Chúa Trời là để bày tỏ Đức Chúa Jêsus Christ, Lời Hằng Sống cho chúng ta. Ngài là Đầu Hội Thánh và là Đấng biến đổi mỗi chúng ta là những người tin cậy nơi Ngài. Điều đó khiến cho Kinh Thánh trở nên sống còn cho chúng ta và cho Hội Thánh.

VỊ TRÍ CỦA TRUYỀN THỐNG

Dầu rằng Kinh Thánh là thẩm quyền duy nhất cho đức tin và sự sống của Hội Thánh, cũng như đối với mỗi cá nhân chúng ta, có hai lĩnh vực khác cũng nên được xem xét. Đó là truyền thống và thực tiễn. Cả hai điều này đều quan trọng khi xem xét sức mạnh của Hội Thánh, dầu rằng cả hai phải ở dưới thẩm quyền của Kinh Thánh. Truyền thống liên quan đến những cội nguồn lịch sử mà từ đó Hội Thánh được hình thành. Có một điểm giống nhau mang tính lịch sử rất đáng lưu tâm giữa vòng nhiều hệ phái khác nhau. Điều đó đặc biệt đúng trong những thời kỳ đầu quá trình phát triển Hội Thánh. Các công việc, các quyết định và các tác phẩm của những nhà lãnh đạo và các công đồng xuyên suốt lịch sử Hội Thánh thật quan trọng lắm. Mọi Cơ Đốc nhân đều biết điều này. Từ tác phẩm của các nhà lãnh đạo và các công đồng Hội Thánh đã cho ra các tín điều (những lời tuyên bố có thẩm quyền về những niềm tin căn bản) và những lời tuyên bố về đức tin. Chúng đã tạo nên nền tảng của truyền thống Hội Thánh. Những tín điều và các lời tuyên xưng đức tin này tác động đến một số hệ phái nổi bật trong xã hội chúng ta ngày nay. Một số nhóm Hội Thánh tuyên bố mình không lệ thuộc vào tín điều. Có nghĩa là những hệ phái này không cho phép bất cứ lời tuyên xưng đức tin hay tín lý nào có thẩm quyền trên họ. Họ tuyên bố rằng thẩm quyền trên họ là Kinh Thánh và đặc biệt là Kinh Thánh Tân Ước. Những Hội Thánh không tín điều này chấp nhận những tín điều đầu tiên của các giáo hội nghị như là những lời tuyên bố về tín lý được hiểu từ Thánh Kinh. Những Hội Thánh này cũng sử dụng những lời xác quyết đức tin của chính họ, nhưng họ nhanh chóng khẳng định rằng Kinh Thánh là trước nhất và là thẩm quyền tối hậu trên họ. Giữa vòng các nhóm phi tín điều này có Hội Thánh Giám Lý, Liên Hiệp các Hội Thánh Đấng Christ, Hội Thánh Tin Lành, Hội Thánh Tin Lành Giao Ước (Evangelical Covenant Church), Hội Thánh Phúc Âm Liên Hiệp (Christian Missionary and Alliance Church), và Hội Thánh Cơ Đốc, cũng như Báp-tít. Những Hội Thánh tín điều là những Hội Thánh hướng đến những tín điều hay sự tuyên xưng đức tin đặc biệt như là nền tảng cho đức tin và hoạt động của họ. . tất cả đều hướng về những tín điều cổ xưa, nhưng mỗi hệ phái phát triển sự tuyên xưng đức tin của riêng họ. Tất cả đều nói rằng Kinh Thánh có thẩm quyền, nhưng những bản tuyên xưng này cũng rất quan trọng cho đời sống của Hội Thánh. Giữa vòng các Hội Thánh tín điều này có Hội Thánh Tín Nghĩa (Lutheran Church), Hội Thánh Tân Giáo (Episcopal Church), Hội Thánh Anh Giáo (Church of England), Hội Thánh Cơ Đốc Cải Chánh (Christian reformed Church), Hội Thánh Trưởng Lão (Presbyterian Church), và Giáo Hội Công Giáo La-mã (Roman Catholic Church). Khi chúng ta nói đến các tín điều và sự tuyên xưng đức tin, chúng ta đang nói đến truyền thống. Nó liên quan đến lịch sử. Những lời tuyên bố về giáo lý này được hình thành vào nhiều thời điểm khác nhau trong lịch sử như là sự thể hiện điều Hội Thánh hiểu về những sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Khi mỗi một trong số những Hội Thánh này phát triển trong lịch sử, họ xây dựng những lời tuyên xưng đức tin của riêng họ để đặc biệt hóa nhóm của mình. Những lời tuyên xưng này khiến cho mỗi hệ phái trở nên khác biệt nhau. Điều này liên quan đến truyền thống. Giáo Hội Công Giáo La-mã được dẫn dắt bởi truyền thống nhiều hơn bất cứ giáo phái nào khác trong vòng Hội Thánh Cơ Đốc. Những người Công Giáo tin rằng người kế vị sứ đồ Phi-e-rơ chính là Giáo Hoàng. Họ đặt nền tảng cho điều này trên những lời Đức Chúa Jêsus phán với Phi-e-rơ (Ma-thi-ơ 16:18-19; Lu-ca 22:31-32; Giăng 21:15-19). Hết thảy những người lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo La-mã được xem là những người kế vị các sứ đồ, có cùng một thẩm quyền (của các sứ đồ). Một sách học Công Giáo nói: “Các giám mục, cùng với Giáo Hoàng, là những người dạy dỗ và dẫn dắt Hội Thánh. Họ phải hầu việc dân sự của Đức Chúa Trời và thế giới bằng cách công bố và bảo vệ sứ điệp của Đấng Christ giữa vòng chúng ta. Họ là những người kế vị các sứ đồ vốn đã nhận mạng lệnh nơi Đấng Christ để ‘đi và dạy dỗ muôn dân’.” Giáo Hội Công Giáo xem những hành động của các vị lãnh đạo và các hội đồng là rất quan trọng trong suốt lịch sử của mình để quyết định giáo lý và các hoạt động của Hội. Kinh Thánh có thẩm quyền trên Giáo Hội Công Giáo, nhưng cách Hội này tiếp cận Kinh Thánh hoàn toàn khác với cách của những người Tin Lành. Quan điểm của họ có thể thấy rất rõ ràng, cũng chính trong quyển sách nói trên: “Những người Công Giáo và Tin Lành… hết sức tập trung vào và kính trọng Lời của Đức Chúa Trời, nhưng cách tiếp cận có điều gì đó khác nhau. Những người Công Giáo tin rằng Kinh Thánh cần được gìn giữ bởi thẩm quyền dạy dỗ của Giáo Hội. Vì thế trong tín điều của mình, Hội cung cấp cho chúng ta một loại từ điển Thánh Kinh. Chúng ta tin rằng Kinh Thánh là trái tim của truyền thống Giáo Hội và nếu không có Giáo Hội để lưu truyền nó, Kinh Thánh sẽ mất hầu hết mọi sức mạnh của mình. “Người Công Giáo xem Kinh Thánh là một cuốn sách được Giáo Hội viết ra một lần đủ cả, cho Hội Thánh, và rằng, nếu tách rời khỏi Giáo Hội, có thể dễ dàng bị hiểu sai.” Khi chúng ta hiểu cách tiếp cận gắn liền Kinh Thánh với truyền thống đó, chúng ta có thể hiểu rõ hơn việc làm thế nào mà một số giáo lý không được dạy rõ ràng trong Kinh Thánh lại trở thành tín lý của Giáo Hội Công Giáo. Dầu rằng có thẩm quyền, Kinh Thánh đến qua Giáo Hội và chỉ có thể hiểu tốt nhất là bên trong Giáo Hội. Điều đó có nghĩa là những quyết định của Giáo Hội có thẩm quyền ngang bằng với các giáo lý được thể hiện rõ ràng trong Kinh Thánh. Chính vì thế mà khi Giáo Hoàng nói với thẩm quyền của Giáo Hội, ông được xem như là không thể sai lầm và có thể quyết định một giáo lý của Giáo Hội vào năm 1870, và giáo lý Ma-ri hồn xác lên trời (Assumption of Mary) được thiết lập từ năm 1950. Đây là giáo lý cho rằng Ma-ri đã được cất lên thiên đàng sau khi chết, như Đức Chúa Jêsus đã được. Những người Báp-tít là một hệ phái phi tín điều. Nhưng Báp-tít cũng là một hệ phái gắn với lịch sử. Họ tìm thấy giá trị lớn trong những tín điều và trong các quyết định của các hội đồng giáo hội toàn cầu trong buổi đầu của lịch sử Hội Thánh. Sự hiểu biết cơ bản của họ về các giáo lý chủ yếu trong Kinh Thánh đến từ những quyết nghị của các hội đồng này. Họ đã sử dụng những lời tuyên xưng đức tin của nhiều thời kỳ khác nhau trong lịch sử của mình. Nhiều Hội Thánh Báp-tít địa phương làm theo những lời tuyên xưng đức tin của chính mình. Một số hệ phái Báp-tít đã sử dụng những lời tuyên xưng đức tin như là những nguyên tắc chỉ đạo trong việc quyết định tư cách hội viên trong tình thông công cũng như hướng đến chức năng của các Hội Thánh. Chẳng hạn Hội Thánh Báp-tít Liên Hiệp đã chấp nhận Lời Tuyên Xưng Đức Tin vào năm 1951. Những lời tuyên xưng các niềm tin trang trọng này được dùng để thể hiện sự hiểu biết hiện thời của Hội về những điều dạy dỗ trong Kinh Thánh. Chúng giúp những người bên ngoài Hội Thánh hiểu được Hội Thánh địa phương hay tổ chức thông công giữa vòng hệ phái tin Kinh Thánh dạy điều gì. Dầu rằng Báp-tít thuộc nhóm phi tín điều, họ thừa nhận giá trị di sản của mình và sự phát triển sự hiểu biết giáo lý trong quá khứ. Và họ cũng cần phải nhận hết vị trí của những lời tuyên xưng đức tin như là những nguyên tắc chỉ đạo cho chức năng của Hội Thánh. Nhưng những lời tuyên xưng đức tin đó không thể trở thành những luật lệ thay thế Kinh Thánh. Kinh Thánh là thẩm quyền duy nhất trên đức tin và nhiệm vụ của chúng ta. Những tín điều chính thức phải được sử dụng giống như sự diễn giải Kinh Thánh mà thôi. Một Hội Thánh địa phương có thể sử dụng lời tuyên xưng để giúp các thành viên tương lai hiểu điều mà Hội Thánh đó tin rằng Kinh Thánh dạy. Một số thành viên tương lai có thể không đồng ý. Hội Thánh địa phương có lẽ cần thiết phải từ chối cho những người như thế gia nhập Hội Thánh. Hành động đó đối với Hội Thánh không có gì mâu thuẫn cả. Điều đó chỉ đơn giản khiến cho những thành viên tương lai nhận thức được rằng họ sẽ không thể cảm thấy thoải mái trong Hội Thánh chừng nào mà sự hiểu biết của họ về sự dạy dỗ của Kinh Thánh còn đối lập với Hội Thánh. Nhưng chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ rằng chúng ta thảy đều ở dưới thẩm quyền của Kinh Thánh. Tất cả mọi tín điều đều phải quy thuận theo Kinh Thánh. Khi nói chuyện với những người Pha-ri-si và các thầy dạy luật về mối liên hệ với truyền thống của Ngài và các môn đồ mình, Đức Chúa Jêsus phán, “Các ngươi bỏ hẳn điều răn của Đức Chúa Trời, đặng giữ theo lời truyền khẩu của mình” (Mác 7:9).

VỊ TRÍ CỦA THỰC TẾ

Một yếu tố khác cần phải được xem xét đối với sức mạnh của Hội Thánh là việc làm những điều gì thực tế. Xuyên suốt lịch sử của mình, đã có nhiều dịp Hội Thánh phải lựa chọn các quyết định về sự sống còn của mình trên nền tảng của tính thiết thực hơn là việc sử dụng bất cứ một tiêu chuẩn nào khác. Có những lúc các quyết định này chính đáng và đúng đắn. Vào những lúc khác những quyết định đó vi phạm nền tảng Kinh Thánh hay tiền lệ lịch sử. Hãy lấy Báp-têm làm ví dụ. Hầu hết mọi hệ phái đều đồng ý rằng việc thực hiện nghi lễ Báp-têm trong Tân Ước và trong Hội Thánh đầu tiên là sự dìm mình người tín hữu vào trong nước. Khi thánh lễ đó ngày càng trở nên gắn liền một cách sai lầm với kinh nghiệm cứu rỗi, các vấn đề phát sinh khi không thể dìm mình một người nào đó vào nước vì cớ sức khỏe kém hay vì những hoàn cảnh khác. Dần dần phương thức thực hiện nghi lễ chuyển sang xối nước lên thân thể rồi đến chỗ rảy nước, vì những phương cách này tỏ ra thực tế hơn. Chính Karl Barth, một nhà thần học thuộc Hội Thánh Cải Chánh Thụy Sĩ và có lẽ là nhà thần học vĩ đại nhất thế kỷ của chúng ta, đã nói: “Một người hầu như không thể phủ nhận việc Báp-têm đã được tiến hành theo nghi thức nhúng mình xuống nước – như ở phương Tây mãi cho đến Thời Trung Cổ – thể hiện một nghi thức ấn tượng hơn nhiều so với việc xối nước vốn sau đó đã trở thành lệ thường, đặc biệt là khi cái lệ thường này được rút gọn từ chỗ làm cho ướt tới chỗ rảy một ít nước và dần dần trên thực tế chỉ còn là việc làm cho ẩm một chút với càng ít nước chừng nào càng tốt chừng nấy.” Quyết định rằng việc rảy nước trở thành một giáo lý có thẩm quyền là hoàn toàn đặt nền tảng trên tính thực tế. Dầu rằng ngày nay hình thức này chính là cái được sử dụng bởi nhiều nhóm chính trong Hội Thánh Cơ Đốc nói chung, nó vẫn đang trên đà dần dần phát triển. Trong những năm gần đây, N. P. Williams thuộc đại học Oxford bị bối rối khi ông không thể tìm thấy một bằng chứng nào về việc làm Báp-têm cho trẻ em trong Kinh Thánh Tân Ước. Vì thế, ông cảm thấy bị dẫn đến chỗ biện hộ rằng con người phải “tin cậy vào những bản năng của Hội Thánh lịch sử.” Đây là sự thừa nhận rằng thẩm quyền thay đổi phương cách Báp-têm đến từ quyết định võ đoán của Hội Thánh hậu Tân Ước. Một minh họa từ chính cuộc đời tôi sẽ làm rõ hơn việc sử dụng tính thực tế trong đời sống Hội Thánh. Khi tôi đang quản nhiệm một Hội Thánh thành phố, một quý cô gọi điện cho vợ tôi. Cô ta giới thiệu một kế hoạch mà từ đó các tín hữu trong Hội Thánh có thể kiếm được rất nhiều tiền. Khi được bảo rằng chúng tôi không hỗ trợ cho Hội Thánh bằng cách buôn bán các thứ, cô ta đã không hiểu. “Bà không muốn có tiền sao?” cô ta hỏi. Vợ tôi đáp, “Chắc chắn là có chứ.” “À, thế thì làm sao bà kiếm được tiền?” Vợ tôi giải thích rằng các thành viên của Hội Thánh chúng tôi tin vào việc họ phải dâng phần mười dựa trên số thu nhập của họ cho Chúa và cho công việc của Ngài. Người phụ nữ hỏi, “Đó là cái gì thế? Đánh vần ra sao?” Thế là vợ tôi đánh vần “p-h-ầ-n m-ư-ờ-i” và giải thích ý nghĩa của nó. Người phụ nữ đó nói, “Tại sao chứ, nơi duy nhất tôi từng nghe nói đến nó là trong Kinh Thánh. Tôi chưa bao giờ nghe một Hội Thánh nào lại đi theo phương pháp đó.” Thật đáng lưu ý, phải không? Cô ta đã chỉ được nghe về việc dâng phần mười trong Kinh Thánh – cô chưa hề nghe có một Hội Thánh nào áp dụng nó cả. Kinh Thánh là thẩm quyền cho Hội Thánh, nhưng nhiều người không nghiêm túc tiếp nhận nó như là chuẩn mực cho niềm tin và các việc làm của Hội Thánh họ. Thật dễ dàng khi để cho lý do con người và lệ thường tốt trở thành một tiêu chuẩn có thẩm quyền cho những quyết định liên quan đến niềm tin và các hoạt động của Hội Thánh. Muốn khám phá nguyên tắc Thánh Kinh đằng sau các quyết định được lựa chọn trong Hội Thánh đòi hỏi phải có nhiều nổ lực và sự cẩn trọng. Trong những năm gần đây, một số người đã nghi ngờ thẩm quyền của Kinh Thánh. Họ chỉ muốn chấp nhận một vài niềm tin căn bản chẳng hạn như tình yêu thương của Đức Chúa Trời cho nhân loại và sự cần thiết của việc phải yêu thương những người lân cận. Từ đó, những quyết định chuyên biệt lại lệ thuộc vào sự phán quyết riêng tư cá nhân của một người nào đó. Đến đây chúng ta đối diện với một thẩm quyền bấp bênh vì cớ quan niệm của nhân loại luôn thay đổi Tuy nhiên, chúng ta không thể bỏ qua hết thảy mọi điều mang tính thực tế trong vòng Hội Thánh. Chúng ta phải hướng dẫn các hoạt động của Hội Thánh trong một thế giới vốn có những điều kiện khác xa so với thế giới thời Tân Ước. Nhưng những nguyên tắc tìm thấy trong Kinh Thánh hoàn toàn đầy đủ để hướng dẫn chúng ta trong mọi quyết định của mình. Một số điều ngày nay chúng ta cần vốn lại không được phác thảo cụ thể trong Kinh Thánh. Chẳng hạn, hầu hết các tiểu bang có những người được ủy thác hay một số các viên chức được bổ nhiệm để lo về các vấn đề liên quan đến pháp luật của Hội Thánh. Những người được ủy nhiệm này không hề có trong Thánh Kinh Tân Ước, công việc của họ lại không trái với những nguyên tắc của Tân Ước. Nguyên tắc dẫn đạo trong các vấn đề Hội Thánh là làm theo sự dạy dỗ của Thánh Kinh Tân Ước. Khi chúng ta tin rằng việc thêm một điều gì đó không được đề cập đến một cách đặc biệt trong Kinh Thánh là cần thiết, thì chúng ta phải biết chắc rằng việc thêm vào đó bắt nguồn từ sự vi phạm các nguyên tắc của Kinh Thánh Tân Ước. Sức mạnh của Hội Thánh kết quả từ sự tôn trọng triệt để thẩm quyền của Kinh Thánh. Khi Hội Thánh dựa vào Kinh Thánh như là nguồn hướng dẫn đức tin và công việc của mình, Hội Thánh trở nên mạnh mẽ. Chính điều này là cái đã khiến cho Hội Thánh có thể đứng vững và phát triển mạnh mẽ. Tôi đến thăm Hội Thánh tại Mátxcơva năm 1966 khi Hội Thánh bị nghiêm cấm khắc khe dưới một chế độ vô thần bạo ngược, Cộng Sản. Hội Thánh vẫn mạnh mẽ bất chấp những cấm đoán. Tôi đã hỏi làm thế nào mà những người lãnh đạo mới được huấn luyện. Họ không có các chủng viện hay trường Kinh Thánh. Họ đáp lời bằng một câu hỏi khác: “Những sinh viên của ông đọc Kinh Thánh nhiều như thế nào?” Những sinh viên của họ, đang học một cách cá nhân với một mục sư trưởng thành, đã đọc xuyên suốt Kinh Thánh đến 35 lần. Đây chính là điều bí mật ẩn chứa sức mạnh của Hội Thánh đằng sau Bức Màn Sắt. Kinh Thánh là thẩm quyền và là sức mạnh của Hội Thánh.

HỘI THÁNH CÓ NGHĨA GÌ?

Quyển sách Những Cội Nguồn của Alex Haley, xuất bản năm 1974, đã nhìn lại lịch sử của ông, là một người Mỹ da đen. Cuốn sách và những chương trình truyền hình sau đó làm bùng nổ trong lòng nhiều người sự thích thú tìm về cội nguồn của mình. Hàng tá các thương vụ đã xuất hiện để giúp người ta tìm về nguồn gốc của chính mình. Cũng theo cách tương tự, ngày nay có nhiều người tò mò về Hội Thánh. Hội Thánh từ đâu đến? Hội Thánh đã xuất hiện như thế nào? Ai là người sáng lập? Hội Thánh phát triển ra sao? Khởi điểm của Hội Thánh Tất cả đã bắt đầu vào thế kỷ thứ nhất. Đức Chúa Jêsus là người đầu tiên dùng từ này (Hội Thánh) như chúng ta biết ngày nay. Ngài phán trong Ma-thi-ơ 16:18: “Ta sẽ lập Hội Thánh ta.” Biết được những bối cảnh để Ngài phán điều này thật là tốt. Mọi sự rao giảng và dạy dỗ của Đức Chúa Jêsus đều vào những dịp đặc biệt. Những điều Ngài dạy dỗ hay rao giảng đều gắn liền với những biến cố và bao quanh bởi những tình huống. Chẳng hạn, vào một dịp Đức Chúa Jêsus hỏi các môn đồ về quan điểm của dân chúng về Ngài, lúc đó Ngài đã trở nên nổi tiếng. Họ nói với Chúa rằng một số người xem Ngài là một trong các tiên tri thời xưa. Rồi Ngài hỏi họ nghĩ gì về Ngài. Phi-e-rơ lập tức trả lời, “Chúa là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời Hằng Sống.” Với câu trả lời đó, Đức Chúa Jêsus phán, “Ngươi là Phi-e-rơ, ta sẽ lập Hội Thánh ta trên đá này.” Điều này có nghĩa gì? Ai là đá để Ngài xây dựng Hội Thánh của Ngài lên trên đó? Có ba sự giải nghĩa chính: 1) Đá ám chỉ Phi-e-rơ. 2) Đá ám chỉ chính Đấng Christ. 3) Đá ám chỉ lời tuyên xưng đức tin của Phi-e-rơ. Cẩn thận xem xét thì thấy rằng sự giải nghĩa thích đáng là sự kết hợp của cả ba ý. Đức Chúa Jêsus phán, “Ngươi là Phi-e-rơ (Petros), ta sẽ lập Hội Thánh ta trên đá (petra) này. Ở đây rõ ràng là có sự chơi chữ. Đức Chúa Jêsus đang phán, “Tên ngươi là Đá, và ta sẽ lập Hội Thánh ta trên đá này.” Đức Chúa Jêsus khẳng định điều này dựa trên nền tảng nào? Lời phán dựa trên sự khám phá và xưng nhận của Phi-e-rơ về đặc tính thật của Đức Chúa Jêsus. Phi-e-rơ nói, “Chúa là Đấng Christ.” Làm thế nào Phi-e-rơ có thể đi đến kết luận đó? Điều này đến với ông qua một sự khải thị thiêng liêng. “Chẳng phải thịt và huyết tỏ cho ngươi biết điều này đâu, bèn là Cha ta ở trên trời vậy” (câu 17). Năng lực bản thân Phi-e-rơ không thể đưa ông đến kết luận đó. Chính Chúa đã bày tỏ cho ông. Vì thế, Chúa chúng ta có thể lập Hội Thánh Ngài trên Phi-e-rơ và tiếp tục lập Hội Thánh Ngài trên những người khác, những người cũng có sự khám phá và tuyên xưng đức tin trong Đấng Christ giống như ông. Chúng ta hãy suy gẫm về một số lẽ thật chúng ta học được từ Lời của Chúa. Trước hết, Ngài chính là nền tảng Hội Thánh. Ngài là Đấng đã phán, “Ta sẽ lập Hội Thánh ta.” Ngài sẽ xây dựng Hội Thánh trên những người giống như Phi-e-rơ, những người cũng đã khám phá ra rằng Đức Chúa Jêsus chính là Đấng Christ, Con của Đức Chúa Trời Hằng Sống. Chính Ngài là Đấng tự bày tỏ mình cho dân sự. Chính Ngài làm công việc xây dựng. Trong I Cô-rinh-tô 3:11 Ngài được gọi là nền móng. Ê-phê-sô 2:20 nói rằng Hội Thánh được “dựng lên trên nền của các sứ đồ cùng các đấng tiên tri, chính Đức Chúa Jêsus Christ là đá góc nhà.” Một lần nữa trong I Phi-e-rơ 2:6-8 Đấng Christ được gọi là đá góc nhà. Đấng Christ rõ ràng là nền tảng và đá góc nhà của Hội Thánh. Jêsus là Chủ của Hội Thánh. Ngài phán, “Ta sẽ lập Hội Thánh của ta.” Hội Thánh thuộc về Ngài. Ngài đã khai sinh ra nó. Ngài thay đổi mọi người tiếp nhận món quà cứu rỗi miễn phí của Ngài, và họ trở thành một phần trong Hội Thánh Ngài. Ngài duy trì Hội Thánh và bởi quyền năng của mình, Ngài là động lực mở rộng Hội Thánh. Ngài chính là Chúa. Các phép ẩn dụ trong Thánh Kinh Tân Ước đã xác nhận Ngài chính là Chúa. Ngài là Đầu của thân thể. Thân thể không thể hoạt động mà không có cái đầu. Là đá góc nhà của một tòa nhà, Ngài là nhân vật trung tâm của Hội Thánh. Ngài là gốc nho, chúng ta là những nhánh. Ngài là Người Chăn của đàn, và chúng ta theo Ngài. Ngài là Chú Rễ, và Hội Thánh là cô dâu. Những hình ảnh ẩn dụ này rõ ràng cho thấy rằng Đức Chúa Jêsus Christ là Chủ tể của Hội Thánh. Hội Thánh nào nhìn nhận được điều này sẽ trở nên mạnh mẽ và hiệu quả. Hội Thánh là vĩnh cửu. Chúa phán, “Các cửa âm phủ sẽ chẳng thắng được hội đó.” Hội Thánh sẽ bị chống đối, và sự chống đối sẽ không bắt nguồn từ những con người bình thường. Nó đến từ những thế lực thuộc linh. Địa ngục, Sa-tan và tay sai của hắn sẽ chống đối lại Hội Thánh và mọi công việc của hội, nhưng những người ở trong Hội Thánh là những người đang ở với đội chiến thắng. Dẫu rằng có đôi lúc chúng ta cảm thấy công việc của chúng ta thật tầm thường vì chúng ta có lẽ là một thiểu số nhỏ bé trong cộng đồng của mình, Hội Thánh chúng ta cuối cùng sẽ chiến thắng cũng như chính Chúa và Lời Ngài đã chiến thắng. Cuối cùng, chúng ta xem xét một lẽ thật khác trong lần thứ hai và cũng là lần cuối cùng Ngài sử dụng khái niệm “Hội Thánh” trong Ma-thi-ơ 18:17. Từ này gợi lên sự cần thiết của khía cạnh địa phương của Hội Thánh. Ở đây Ngài đề cập đến một cuộc tranh chấp không thể giải quyết giữa hai tín hữu. Cuộc tranh chấp sau đó nên đưa ra giữa Hội Thánh. Đưa một vấn đề tranh chấp ra giữa Hội Thánh phổ thông là điều hoàn toàn không thể. Nó phải được đưa ra giữa một nhóm địa phương. Việc làm thực tiễn của Hội Thánh Ngài thiết lập đòi hỏi một tình thông công địa phương. Ý nghĩa của từ “Hội Thánh” Khi chúng ta dùng từ “Hội Thánh”, có rất nhiều hình ảnh khác nhau hiện lên trong tâm trí. Đối với một số người nó ám chỉ một giáo phái chẳng hạn Giáo Hội Công Giáo La-mã hay Hội Thánh Trưởng Lão. Đối với những người khác nó có nghĩa là một tòa nhà có thể được xem là một Hội Thánh cá biệt. Nhiều người đồng nhất hóa Hội Thánh với một nhóm người. Khi từ này lần đầu tiên được sử dụng như chúng ta biết ngày nay, nó đã được những người Gô-tích sử dụng, những người này tràn vào Đế Chế La-mã từ phương Bắc. Họ quan sát các Cơ Đốc nhân đang khi thờ phượng. Họ thấy những Cơ Đốc nhân ở trong các nhóm nhỏ trong nhà mình để thờ phượng, vì thế quan niệm đầu tiên của họ về Hội Thánh là một ngôi nhà nơi những tín hữu gặp gỡ. Đó là sự thể hiện hữu hình, mang tính vật lý của Cơ Đốc giáo mà họ đã lưu ý, và vì thế họ nói đến Hội Thánh với sự nhấn mạnh trước tiên là địa điểm nhóm. Từ này thật sự bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, kuriakon, vốn nói đến một tòa nhà. Nó có nghĩa là “thuộc về một chúa hay chủ.” Đối với hầu hết những người khác, chúng ta tiếp tục sử dụng từ Hội Thánh để gọi một tòa nhà nơi mà sự thờ phượng và các hoạt động khác được thực hiện. Dầu rằng đó là từ được dùng trong các bản dịch Kinh Thánh tiếng Anh của chúng ta, nhưng nó không phải là từ được Thánh Kinh Tân Ước tiếng Hy Lạp sử dụng. Kuriakon không hề được sử dụng trong Thánh Kinh Tân Ước để chỉ Hội Thánh. Từ đó là ecclesia, có nghĩa là “hội đoàn của những người được biệt riêng.” Từ ecclesia không nhấn mạnh tòa nhà, nơi mà những tín hữu gặp gỡ, nhưng nhấn mạnh chính bản thân những tín hữu. Hội Thánh là cộng đoàn những người tin cậy nơi Đấng Christ, bất luận họ gặp nhau trong một hang động, một căn nhà, một giáo đường hay ngoài trời. Người trong thời Tân Ước hoàn toàn nhận biết được ý nghĩa của từ này khi nó được dùng. Từ ecclesia xuất phát từ một chính quyền đô thị quốc của Hy Lạp. Nó được sử dụng để nói đến các dân biểu khi họ hội họp với nhau lại để làm luật và để ban hành quy chế đặc biệt cho thành phố của mình. Bốn dữ kiện giúp giải thích Hội Thánh Tân Ước được tìm thấy trong hội đồng thành phố Hy Lạp này. Trước hết, hội đồng Hy Lạp là một nhóm địa phương. Nó không bao gồm cả nước hay một đế quốc. Những người tụ họp với nhau đại diện cho một thành phố. Thứ hai, đó là một nhóm tự trị. Họ cai trị một cách độc lập trong địa phương mình, nhưng có mối quan hệ với những khu vực khác. Thứ ba, tư cách hội viên trong nhóm đòi hỏi phải đáp ứng được những phẩm chất nhất định. Các công dân phải đạt được một tiêu chuẩn nào đó trước khi họ được ra ứng cử. Thứ tư, hội đồng Hy Lạp được điều hành trên các nguyên tắc dân chủ. Họ được bầu cử như là một tổ chức dân chủ và số đông cai trị. Bốn nguyên tắc này là những nguyên tắc chỉ đạo đầy ý nghĩa cho chức năng của Hội Thánh Tân Ước. Trong Đế Quốc La-mã, khi mỗi nhóm công dân La-mã tụ họp lại với nhau (bất luận ở đâu), thì sự nhóm họp của họ là một tiếng nói của Rô-ma. Nhóm này chẳng có ý nghĩa gì nếu tách khỏi Rô-ma. Mỗi công dân La-mã đến một thành phố, nơi có một nhóm như vậy tồn tại thì tự động anh ta trở thành một thành viên của nhóm đó. Về phương diện địa lý mà nói, các nhóm này có thể ở cách xa Rô-ma đến vài ngàn dặm, nhưng họ vẫn là một phần quan trọng của Rô-ma. William Barclay, một nhà bình giải Kinh Thánh nổi tiếng, và cũng là một tác giả, đã nói, “Đó là ý nghĩa thật của Hội Thánh; mỗi Hội Thánh địa phương chỉ là một phần, một bức tiểu họa của Hội Thánh phổ thông vĩ đại.” Những mối quan hệ thuộc địa phương hay rộng hơn phải được lưu tâm đến khi chúng ta khảo cứu sự nhấn mạnh của Thánh Kinh Tân Ước đến Hội Thánh. Cách Kinh Thánh sử dụng từ “Hội Thánh” Xem xét cách Kinh Thánh sử dụng từ “Hội Thánh” là rất tốt. Ý tưởng này đã được thấy trong Cựu Ước khi nó ám chỉ đến cộng đoàn dân sự của Đức Chúa Trời. Nhưng vì Hội Thánh thực sự bắt đầu vào kỷ nguyên Tân Ước, nên tốt nhất là chúng ta nghiên cứu cách Thánh Kinh Tân Ước sử dụng từ này. Kinh Thánh luôn dùng cùng một từ khi nói đến toàn thể cộng đồng hoặc hội chúng địa phương. Từ này được dùng 112 lần. 12 lần nó được dùng để ám chỉ đến Hội Thánh phổ thông – tức là Hội Thánh của mọi người tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ, bất luận có thể tìm thấy họ ở đâu, trong thời đại nào, hay trong nhóm giáo phái/hệ phái nào. 90 lần từ này rõ ràng ám chỉ đến hội chúng địa phương. Các lần khác nó nói đến một ý nghĩa chung thường ám chỉ một Hội Thánh hữu hình. Chỉ dựa trên những con số này mà thôi, thì ý nghĩa nguyên thủy của từ Hội Thánh được hiểu mang tính địa phương và hữu hình. Tình thông công và chức năng của nhóm địa phương rất quan trọng. Chính bởi từ đây mà sự tăng trưởng Cơ Đốc và bằng chứng sống còn diễn ra. Mặt khác, các thành viên của nhóm cũng cảm nhận sự hiệp nhất với các tín hữu ở xa. Họ quan tâm, lo tưởng đến nhau. Họ tìm kiếm sự khích lệ lẫn nhau. Hãy lưu ý sự phụ thuộc lẫn nhau thể hiện tại Giáo Hội Nghị Giê-ru-sa-lem trong Công vụ 15. Mặc dầu từ phổ thông (hay “catholic”) không hề được dùng trong Thánh Kinh Tân Ước, ý tưởng đó được thể hiện rất rõ ràng. Các thư tín của Phao-lô gởi cho các Hội Thánh tại Ê-phê-sô và Cô-lô-se ngụ ý khía cạnh phổ thông của Hội Thánh. D. W. B. Robinson trong quyển Tân Thánh Kinh Từ Điển đã nói, “Bất luận việc con số các Hội Thánh có đông như con số các thành phố hay ngay cả các gia đình, Thánh Kinh Tân Ước chỉ nhìn nhận một Hội Thánh mà không cần giải thích mối quan hệ giữa một và nhiều Hội Thánh. Đó là một thực thể ‘thiên thượng’ vốn không thuộc về dạng thức của thế giới trần gian này nhưng thuộc về Vương Quốc của sự phục sinh vinh hiển, nơi mà Đấng Christ được tôn cao ngay bên hữu của Đức Chúa Trời.” Sau khi Đức Chúa Jêsus thăng thiên, 120 người tại Giê-ru-sa-lem đã hiệp lại với nhau trong sự cầu nguyện. Rồi Thánh Linh giáng xuống trên họ. Sau đó, họ đã làm chứng về Đấng Christ. Bởi kết quả của sự cầu nguyện, bởi công việc của Thánh Linh, và sự làm chứng của họ, ba ngàn người đã thêm vào Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem. Đằng sau cơ cấu và sự mở rộng của Hội Thánh, chúng ta tìm thấy sự cầu nguyện, công việc của Thánh Linh và lời chứng về Đấng Christ. Nguyên tắc này đúng trong mọi tổ chức thuộc mọi nhóm tín hữu trong thời kỳ Hội Thánh đầu tiên. Một Hội Thánh đang phát triển không phải là kết quả của sự tổ chức thái quá. Đó chính là công việc của các cá nhân và các nhóm tín hữu hiệp lại cầu nguyện, những người cảm nhận được quyền năng của Thánh Linh và đã làm chứng về Đức Chúa Jêsus Christ như là Đấng cứu chuộc họ. Cách Hội Thánh Báp-tít sử dụng từ này Một số người có thể hỏi, “Hội Thánh Báp-tít bắt đầu như thế nào? Ai là người sáng lập? Nguồn gốc của họ là gì? Một số người nghĩ rằng người sáng lập là Giăng Báp-tít, nhưng rất ít tín hữu Báp-tít giữ quan điểm này. Giăng Báp-tít làm Báp-têm bằng sự trầm mình, nhưng sự Báp-têm của ông có một ý nghĩa khác hơn sự Báp-têm theo sau sự chết và sống lại của Đức Chúa Jêsus Christ. Hội Thánh đã chưa ra đời khi Giăng đang làm Báp-têm. Hội Thánh bắt đầu sau sự chết và sống lại của Chúa Jêsus. Hội Thánh Báp-tít bắt đầu vào thế kỷ 16 suốt thời kỳ Cải Chánh Giáo Hội khi có nhiều nhóm Tin Lành bắt đầu hình thành. Khái niệm Báp-tít không được chính những tín hữu Báp-tít lựa chọn. Nguồn gốc của nó vốn là một tên hiệu cũng giống như từ Cơ Đốc nhân vốn cũng từng là một tên hiệu. Những người đi theo Đấng Christ đã không lựa chọn cái tên “Cơ Đốc nhân,” và những tín hữu Báp-tít cũng không chọn cái tên “Báp-tít” cho mình. Đầu tiên họ được gọi là “Những người tái Báp-têm,” tức là những người làm Báp-têm lại. Họ làm Báp-têm lại cho những người đã được “Báp-têm” khi còn ẳm ngữa, vì họ tin rằng sự rảy nước đó không phải là Báp-têm theo như Thánh Kinh Tân Ước dạy. Họ tin rằng sự Báp-têm luôn luôn theo sau một kinh nghiệm cải đạo và được hoàn tất bởi sự dìm mình trọn vẹn vào nước. Tín hữu Báp-tít không tuyên bố bất cứ cá nhân nào là người sáng lập của họ. Họ công nhận việc làm và những đóng góp của mỗi nhà cải chánh – Martin Luther, John Calvin, Huldrych Zwingli, John Huss, John Knox và những người khác. Dẫu rằng sẵn sàng tiếp nhận nhiều điều trong số những đóng góp của những người này trong việc nghiên cứu Kinh Thánh, tín hữu Báp-tít vẫn xem Thánh Kinh Tân Ước là thẩm quyền trên đời sống Cơ Đốc và sinh hoạt Hội Thánh của họ. Tín hữu Báp-tít tin rằng chức năng của hội chúng địa phương có tầm quan trọng cao nhất. Vì thế, chúng tôi có khuynh hướng không nói về sự thông công hệ phái của chúng tôi hay bất cứ hệ phái Báp-tít nào như là “Hội Thánh Báp-tít.” Thật chính những Hội Thánh Báp-tít trong sự thông công lẫn nhau đã hình thành nên một nhóm lớn hơn. Sự thông công lớn hơn này là cần thiết để làm cho việc truyền giáo khắp thế giới trở nên thuận tiện, nhưng nó vẫn là sự thông công trong sự hầu việc Đấng Christ. Vì những người Báp-tít nhấn mạnh tính độc lập và tự trị của hội chúng địa phương, những viên chức của các quận và các văn phòng quốc gia được kể là những người phục vụ Hội Thánh. Thuận phục dưới quyền tể trị của Đấng Christ là rất quan trọng cả trong các Hội Thánh địa phương cũng như giữa vòng những nhà lãnh đạo hệ phái. Những tín hữu Tân Ước nhìn nhận việc họ cần lẫn nhau như thế nào, thì chúng tôi cũng thấy nhu cầu đó. Chúng tôi không thể đi một mình. Hội Thánh Báp-tít Liên Hiệp, chẳng hạn, có một trung tâm dịch vụ quốc tế tại Arlington Heights, bang Illinois. Hội có một trường cao đẳng nghệ thuật khoáng đạt và một chủng viện thần học tại St. Paul, bang Minnesota., với một trường đại học thứ hai tại San Diego, bang California. Các chi hội thuộc viên tạ ơn Chúa vì cớ mỗi một lãnh đạo ở những nơi này cũng như các lãnh đạo ở những khu vực khác nhau. Những người nam và người nữ này là những người phục vụ Hội Thánh chúng tôi. Họ luôn sẵn lòng cho lời tư vấn. Họ hướng ý cho sự thông công toàn thể trong sự tăng trưởng và lo tưởng đến nhau, cung cấp các tài liệu và những giúp đỡ hướng dẫn, truyền giáo hướng ngoại, và cung cấp các nguyên tắc chỉ đạo cũng như lời khuyên cho các vấn đề khác nhau. Chúng ta cần lẫn nhau trong sự thông công rộng lớn hơn. Chúng ta hoạt động tốt hơn với sự phụ thuộc lẫn nhau. Điều này cũng có thể thấy ở nhiều nhóm Báp-tít khác. Mỗi người trong chúng ta phải xúc động vì được làm một phần của Hội Thánh Đấng Christ. Khi chúng ta ôn lại cội nguồn mà từ đó chúng ta ra đời, chúng ta sẽ cảm nhận được một đặc quyền cao cả mà chúng ta có được khi là các thành viên Hội Thánh. Sự tự do điều khiển chúng tôi Điều gì đã thúc đẩy các nhà lãnh đạo trong quá khứ hướng Hội Thánh theo con đường mà nó đã từ đó phát triển? Ngày nay, nguồn lực chủ đạo nào đã giữ cho Hội Thánh vẫn phát triển theo con đường đó? Có nguyên tắc căn bản nào điều khiển hướng đi mà Hội Thánh phải theo không? Có một nguyên tắc điều khiển cơ bản nào đã giữ Hội Thánh khỏi đánh mất tính hiệu quả của nó không? Chúng tôi tin là có. Đó là một nguyên tắc đến từ Thánh Kinh Tân Ước, cũng như từ chính kinh nghiệm con người chúng ta. Đó không phải là một nguyên tắc để thay thế Thánh Kinh Tân Ước; mà là kết quả của những điều Thánh Kinh Tân Ước dạy. Nguyên tắc này là nguyên tắc đặc trưng cho Hội Thánh Báp-tít. Chúng ta hãy cùng định nghĩa nó. Đó là: Mỗi người trên thế giới này thảy đều có một quyền cố hữu như nhau, là quyền tương giao trực tiếp và cá nhân với Đức Chúa Trời qua Đức Chúa Jêsus Christ, và mối tương giao với những người khác cũng thế. Nó có nghĩa là mọi cá nhân đều có quyền trực tiếp đến với Đức Chúa Trời thông qua Đấng Christ. Không một con người, một nhóm người hay một tổ chức nào có thể đứng giữa một cá nhân và Đức Chúa Trời. Nó còn có nghĩa là mọi người đều như nhau trong cái nhìn của Đức Chúa Trời và trong trách nhiệm của chính họ với Ngài. Hiểu điều này là hiểu được các thực hành của Hội Thánh Báp-tít. Nguồn gốc của nguyên tắc này Làm thế nào chúng tôi đi đến nguyên tắc tự do có trách nhiệm này? Đầu tiên nó xuất hiện từ đặc trưng cơ bản của con người. Trong đời sống con người có những nhận thức cơ bản, những ước muốn bẩm sinh và những động lực căn bản. Một trong những nhận thức bẩm sinh này là một cá nhân tin rằng anh ta được tự do như bất kỳ con người nào khác. Tự do là niềm đam mê lớn lao của con người. Từ những ngày đầu tiên của thuở ấu thơ trong một đời người đã thể hiện ước muốn bên trong này. Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta động lực căn bản này. Nếu Đức Chúa Trời đã ban điều đó cho chúng ta, thì cần phải có một phương cách thích hợp để thể hiện nó. Nguồn gốc thứ hai là người nam và người nữ đã được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời. Điều này có ý nghĩa gì? Nó không ám chỉ đến thân thể của chúng ta, vì Đức Chúa Trời không có thể xác; nên, hình ảnh liên quan đến nhân cách. Nhân cách chúng ta bao gồm trí tuệ, tình cảm và ý chí của chúng ta. Trong khía cạnh này đã cho thấy rằng chúng ta ở trong hình ảnh của Đức Chúa Trời. Một trong những lĩnh vực hàng đầu của nhân cách là ý chí. Ý chí đem đến cho con người sự tự do lựa chọn quyết định. Vì thế sự kiện người nam và người nữ được tạo dựng trong hình ảnh của Đức Chúa Trời cho thấy rằng họ có một sự tự do cơ bản trước mặt Đức Chúa Trời. Nguồn gốc thứ ba là quan trọng nhất và không thể nghi ngờ được của nguyên tắc này là Thánh Kinh Tân Ước. Trong đó chúng ta tìm thấy dăm ba lý do cho việc đây là nguyên tắc cơ bản trong đời sống của Hội Thánh. Trước hết, cá nhân là quan trọng nhất trong Thánh Kinh Tân Ước. Chúa Jêsus trong chức vụ của mình đã nhiều lần nhấn mạnh đến các cá nhân. Hãy lưu ý cuộc đàm thoại của Ngài với người đàn bà Sa-ma-ri bên cạnh giếng nước. Đức Chúa Jêsus đã kể một ví dụ về một con chiên lạc mất trong khi 99 con còn lại đang ở trong chuồng. Ngài chăn chiên sẵn sàng hy sinh sức lực và thời gian, ngay cả mạo hiểm cả sinh mạng của mình, để đi tìm con chiên lạc mất. Điều đó nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của cá nhân. Đức Chúa Jêsus thường xuyên có những cuộc nói chuyện với các cá nhân. Ngài nói chuyện với đám đông dân sự, dạy dỗ họ, cho họ ăn. Nhưng trong mỗi trường hợp cần thiết, Ngài đều nói chuyện riêng với các cá nhân. Sự gặp gỡ cách cá nhân với Đức Chúa Jêsus là cần thiết. Vì lý do này, những chuyến dịch truyền giáo thành công đều sử dụng nhiều người được đặc biệt huấn luyện để quan hệ cách cá nhân với những người sẽ thực hiện các quyết định. Chính cá nhân lại có giá trị. Đó là điều Thánh Kinh Tân Ước dạy như thế. Kinh nghiệm cải đạo phá đổ các rào cản giai cấp. Chúng ta thảy đều như nhau trước mặt Đấng Christ (Ga-la-ti 3:28). Một người có thể thấy một giám đốc doanh nghiệp và một người giao hàng ngồi cạnh nhau trên băng ghế nhà thờ và chào hỏi nhau thân mật sau buổi nhóm. Nhưng đó không phải là cuộc thử nghiệm. Hãy đến với cuộc họp ban chấp hành Hội Thánh và xem cách hai người này hợp tác và tương tự nhau, cùng lo công việc của Hội Thánh. Mỗi người đều được tôn trọng vì sự đóng góp của mình. Nhưng đó chưa phải là toàn bộ cuộc thử nghiệm. Hãy đến thăm một gia đình đang có thì giờ học Kinh Thánh với nhau. Cũng những người đàn ông đó hiện diện. Hãy lắng nghe cuộc thảo luận. Hãy lắng nghe lời cầu nguyện. Bạn sẽ không thể nói được đâu là giám đốc doanh nghiệp và đâu là người giao hàng. Các rào cản đã bị phá vỡ. Sự tự do thật là rõ ràng. Đó thật sự là sự thể hiện của Hội Thánh Tân Ước, nơi mà mọi sự phân biệt giai cấp bị xóa bỏ. Thánh Kinh Tân Ước dạy rằng mỗi tín hữu là một thầy tế lễ trước mặt Đức Chúa Trời. Đây là một quan niệm mới. Hãy xem trong I Phi-e-rơ 2:5, 9; Khải Huyền 1:6; 5:10; 20:6. Nó được gọi là chức tế lễ của tín hữu. Giáo lý vinh hiển này, được tái khám phá vào thời kỳ Cải Chánh Tin Lành, đã đưa đến ngày giải phóng của những người ngoại đạo. Mỗi tín hữu khám phá ra rằng anh ta có quyền trực tiếp đến với Đức Chúa Trời. Làm một thầy tế lễ nghĩa là gì? Chức năng chính của thầy tế lễ trong Cựu Ước là đại diện dân sự đến trước mặt Đức Chúa Trời, trình dâng những nhu cầu của họ cho Ngài. Con đường đến gần Đức Chúa Trời ngày nay đã được rộng mở cho mỗi Cơ Đốc nhân. Hoàn toàn không có chức tế lễ riêng biệt trong Tân Ước. Đức Chúa Jêsus đã phá vỡ rào cản ngăn cách giữa Đức Chúa Trời và con người vốn khiến cho chức tế lễ là cần thiết. Sự chết của Ngài trên thánh giá đã xé tung bức màn ngăn cách giữa chức tế lễ và dân sự. Sự chết của Ngài mở rộng con đường trực tiếp dẫn đến sự hiện diện của Đức Chúa Trời cho những ai đặt niềm tin nơi Ngài (Hê-bơ-rơ 10:19-22). Bấy giờ, Đấng Trung Bảo duy nhất giữa loài người và Đức Chúa Trời chính là Đấng Christ (I Ti-mô-thê 2:5). Không cần phải có một người trung gian nào khác, và cũng không có ai có thể đảm nhiệm vai trò này. Có thể có sự dạy dỗ, sự rao giảng, nhưng mỗi cá nhân đều chịu trách nhiệm giải trình trước mặt Đức Chúa Trời và có một đặc quyền là được trực tiếp đến với Ngài. Đức Chúa Jêsus dạy rằng không có điều gì cản trở giữa cá nhân và Đức Chúa Trời. Trong Ma-thi-ơ 23:8-10, chúng ta đọc thấy một sự dạy dỗ rõ ràng của Chúa về mối quan hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời. Không ai được gọi là chủ. Không ai được gọi là Cha. Chỉ duy nhất Đấng Christ là Chủ. Trước mặt Đức Chúa Trời chúng ta thảy đều như nhau cả. Điều này đã được nói với các đám đông và với các môn đồ. Câu Kinh Thánh sau đó xác định rằng hễ ai muốn được làm người lãnh đạo thì trước hết phải là những người phục vụ chân thành. Các sứ đồ cũng ý thức được trách nhiệm trực tiếp của họ đối với Đức Chúa Trời. Trong Công vụ 5:29, khi bị những nhà lãnh đạo tôn giáo đe dọa, họ nói, “Thà vâng lời Đức Chúa Trời hơn vâng lời người ta!” Không một nhà lãnh đạo tôn giáo nào dám phủ nhận trách nhiệm trực tiếp của họ trước mặt Chúa. Những nguyên nhân trên đây làm rõ thêm nguồn gốc của nguyên tắc cơ bản này. Điều này thật rõ ràng thông qua các đặc tính của con người, thông qua sự kiện là chúng ta đã được tạo dựng theo hình ảnh Đức Chúa Trời, và đặc biệt là từ Tân Ước. Không một sự cản trở con người nào có thể ngăn chặn việc tín hữu trực tiếp đến với Đức Chúa Trời. Mỗi tín hữu cũng như mọi người khác đều có đặc quyền và trách nhiệm này. Hiệu quả của nguyên tắc này Nguyên tắc tự do có trách nhiệm hoạt động như thế nào? Nó làm điều gì cho mỗi chúng ta? Nó làm điều gì trong sinh hoạt của Hội Thánh chúng ta? Chính trong chức năng của nguyên tắc này mà chúng ta thấy đặc quyền của mình vinh hiển ra sao. Chính bởi công việc thực tiễn bên ngoài của nguyên tắc này mà chúng ta thấy được sự khác biệt giữa các hệ phái. Sự hiểu đúng nguyên tắc này sẽ giúp chúng ta đánh giá đúng Hội Thánh hơn. Có tám lĩnh vực khác nhau mà qua đó cho thấy sự thể hiện thực tiễn của nguyên tắc này. Trước hết, nó liên quan đến Kinh Thánh. Hãy suy nghĩ về điều này. Kinh Thánh là bức thư riêng của Đức Chúa Trời cho bạn và tôi. Tôi có thể cầm lấy nó và bắt đầu đọc. Được nghe Đức Chúa Trời phán với tôi qua Kinh Thánh chính là đặc quyền tôi có. Tôi có thể tìm một người nào khác để giúp đỡ mình hiểu Kinh Thánh, nhưng tôi hoàn toàn tự do lựa chọn những quyết định của riêng mình về điều Kinh Thánh dạy. Tôi biết Đức Chúa Trời có những sứ điệp cho đời sống tôi. Ngài sẽ giúp tôi trong các quyết định của mình. Kinh Thánh mở ra trước mắt tôi để tôi nghe tiếng của Ngài. Thật là một đặc quyền đáng chú ý! Lẽ thật này là một trong những lý do chính cho sự tăng trưởng nhanh chóng của các Hội Thánh Tin Lành trong suốt thời kỳ Cải Chánh Giáo Hội. Trong nhiều thế kỷ, những người ngoại đạo không được đọc Kinh Thánh, và họ không biết sứ điệp của nó. Sự Cải Chánh mang Kinh Thánh đến cho nhiều người trong ngôn ngữ của chính họ. Khi người ta bắt đầu đọc, họ khám phá ra những sứ điệp cho riêng mình. Điều đó đem đến sự biến đổi. Cùng một điều như thế cũng đang diễn ra ngày nay. Một sự thích thú nghiên cứu Kinh Thánh mới, cả ở nhà lẫn ở tại Hội Thánh, đang đem lại sự tươi mới cho các cá nhân cũng như các Hội Thánh. Thứ hai, nó liên quan đến sự cứu rỗi của một người. Thật là một vấn đề quan trọng, để biết rằng tôi đang ở trong mối quan hệ đúng đắn với Đức Chúa Trời, để hoàn toàn tin chắc rằng tôi có sự sống đời đời. Đặc quyền thực hiện các quyết định vốn sẽ đưa tôi vào mối tương giao đúng đắn với Đức Chúa Trời thuộc về tôi. Không ai có thể làm điều đó giúp tôi, và cũng không ai có thể ngăn trở tôi làm điều đó. Giăng 1:12 đặt đặc quyền và trách nhiệm đó vào ngay trong lòng tôi. Thật là phải lẽ và thật lành mạnh! Nhiều Hội Thánh dạy rằng sự cứu rỗi lệ thuộc vào việc làm Báp-têm. Điều đó sẽ phá đỗ lẽ thật cơ bản này vì cớ nó cho thấy rằng một người sẽ phải lệ thuộc vào người ban Báp-têm để được sự cứu rỗi. Nhưng mỗi cá nhân phải chịu trách nhiệm về chính mình trước mặt Đức Chúa Trời. Sự cứu rỗi thậm chí cũng chẳng đến bởi Hội Thánh, dầu rằng một người có thể hiểu ý nghĩa của nó thông qua Hội Thánh. Hầu hết các quyết định tin nhận Đấng Christ được thực hiện trong nhà thờ hay trong một văn phòng nào đó của Hội Thánh, nhưng những quyết định này vẫn là sự lựa chọn cá nhân. Thứ ba, nó liên quan đến việc làm Báp-têm. Đa số các Hội Thánh ngày nay áp dụng phương pháp rảy nước để làm Báp-têm. Gần như tất cả những người được rảy nước là trẻ em. Rõ ràng là không một đứa trẻ nào có thể tự quyết định tham gia hay không tham gia nghi thức này. Điều này được cha mẹ chúng hay những người có liên quan quyết định. Một ai đó có thể sẽ hỏi, “Có sự khác biệt nào giữa việc làm phép Báp-têm cho trẻ sơ sinh và việc dâng con được thực hiện trong các Hội Thánh của chúng ta?” Nghi lễ đó hoàn toàn là việc làm của cha mẹ. Nó không truyền lại bất cứ “ân điển” nào hay thể hiện bất cứ cảm xúc nào về phần đứa con. Nó chỉ thể hiện ước muốn của người cha người mẹ. Các bậc cha mẹ khao khát ơn phước của Đức Chúa Trời tuôn đổ trên con cái mình, khao khát sự khôn sáng trong việc dạy dỗ đứa con, và khao khát sự dẫn dắt của Ngài trong mọi vấn đề liên quan đến gia đình họ. Điều này hoàn toàn thích hợp cho các bậc cha mẹ làm, và Đức Chúa Trời hứa ban phước cho gia đình nào tôn vinh Ngài. Nhưng trong việc làm Báp-têm, mỗi cá nhân phải quyết định cho riêng mình. Thứ tư, nó liên quan đến Lễ Tiệc Thánh. Ở đây, sự tự do có trách nhiệm cũng có thể thích hợp. Chính mỗi cá nhân là người quyết định cùng dự Tiệc Thánh hay không dự Tiệc Thánh. Mỗi tín hữu thật trong Đức Chúa Jêsus Christ đều nên dự Lễ Tiệc Thánh. Trong lúc có sự hướng dẫn về ý nghĩa của nghi lễ này, trách nhiệm quyết định vẫn thuộc về các cá nhân. Không một vị mục sư, trưởng lão hay chấp sự nào có thể can thiệp vào hội chúng và quyết định người nào được và không được dự. Trường hợp ngoại trừ duy nhất là bị dứt phép thông công vì cớ tội lỗi. Gặp lúc như vậy, việc làm đó phải được thực hiện trước thì giờ thông công của hội chúng. Thứ năm, nó liên quan đến lối sống Cơ Đốc. Đến đây chúng ta gặp phải những vấn đề nghi vấn. Ai là người thực hiện các quyết định về những vấn đề lối sống? Những nan đề này không phải lúc nào cũng rõ ràng. Nếu một số nhà lãnh đạo đưa ra các tiêu chuẩn, chúng ta sẽ mắc kẹt trong sự câu nệ luật pháp vốn vi phạm nguyên tắc của chính chúng ta. Các cá nhân chịu trách nhiệm trong việc thực hiện các quyết định liên quan đến lối sống của mình. Nhưng những quyết định này phải được thực hiện trên nền tảng bốn nguyên tắc chỉ đạo trực tiếp từ Kinh Thánh: 1) Điều gì sẽ làm vinh hiển Đức Chúa Trời, 2) Điều gì sẽ nâng đỡ và không làm hại những người khác, 3) Điều gì sẽ đóng góp vào lợi ích chung của Hội Thánh, 4) Điều gì đóng góp vào sự phát triển cá nhân của người đó. Các quyết định về đời sống Cơ Đốc vẫn là quyết định của cá nhân, nhưng người tín hữu thuộc về Chúa, và nhìn nhận trách nhiệm cá nhân của mình trước mặt Ngài. Thứ sáu, nó liên quan đến những người khác. Chúng ta là những tạo vật xã hội. Chúng ta sống trong thế gian với những người khác. Trong những mối quan hệ này, nguyên tắc của chúng ta vẫn thích hợp. Vì chúng ta chịu trách nhiệm giải trình trước mặt Đức Chúa Trời và được trực tiếp đến gần Ngài, chúng ta cũng có trách nhiệm đối với những người khác. Chúng ta phải chia sẻ sự tự do này với họ, để cho họ được lựa chọn những quyết định thuộc linh của cá nhân mình. Chúng ta không thể áp đặt đức tin của chúng ta lên người khác, nhưng mỗi cá nhân có quyền chia sẻ đức tin của mình. Tín hữu Báp-tít sẽ luôn luôn cố gắng duy trì quyền tự do này trên tất cả mọi người bất chấp những niềm tin tôn giáo của họ là gì. Thứ bảy, nó liên quan đến ban điều hành Hội Thánh. Hội Thánh Tân Ước là một Hội Thánh dân chủ. Điều đó nhấn mạnh nguyên tắc căn bản của chúng ta về sự tự do có trách nhiệm. Mỗi cá nhân đều có tiếng nói và quyền hạn như nhau trong Hội Thánh. Hội Thánh không được điều khiển bởi một hệ thống cấp bậc. Hãy đọc Ma-thi-ơ 20:25-28; 23:8-12. Mục sư hay truyền đạo của Tin Lànhlà một người hầu việc, không phải là người cha của đàn. Các thành viên Hội Thánh bỏ phiếu để mời gọi vị mục sư mà họ tin rằng đó là một người lãnh đạo hay người chăn chiên của Đức Chúa Trời. Bởi sự đầu phiếu của mình, Hội Thánh nhìn nhận sự lãnh đạo của người mà họ đã mời gọi. Nhưng thẩm quyền của vị mục sư tùy thuộc vào sự thuận phục Chúa. Sự phong chức không biến một truyền đạo trở nên một con người khác hơn – một mục sư. Hội Thánh phong chức một người nào đó chỉ như là hành động nhìn nhận rằng Đức Chúa Trời đã phong chức cho người đó rồi. Vì thế, trong ban điều hành của Hội Thánh, mỗi cá nhân, bao gồm cả mục sư, có một phiếu bầu. Mỗi người đều ở cùng một cấp bậc như những người khác. Thứ tám, nó liên quan đến Hội Thánh và nhà nước. Những quyền tự do mà chúng ta có được trên đất nước này là kết quả của nguyên tắc chúng ta đang bàn đến. Có một mối quan hệ gần gũi giữa Hội Thánh và chính quyền, nhưng cũng có sự tách biệt. Điều này đúng với lời Chúa Jêsus trong Ma-thi-ơ 22:21. Đặc quyền vinh hiển của sự tự do và sự tách biệt này của Hội Thánh và chính quyền đã bị đánh mất trong nhiều thế kỷ. Từ năm 313, khi Constatine hợp pháp hóa Cơ Đốc giáo và thống nhất nó với các hoạt động của đế chế, cho đến năm 1638, khi Roger Williams thiết lập nền độc lập hoàn toàn tại đảo Rhode, quốc gia nào Cơ Đốc giáo thắng thế, thì nơi đó Hội Thánh “nhà nước” (state) cũng thắng thế. Nhà nước chu cấp cho Hội Thánh, và vì thế điều khiển các hoạt động của Hội Thánh. Đây là một sự vi phạm tính chất thật của sự tự do cá nhân. Đặc quyền mà ngày nay chúng ta có được trên đất nước của mình đã được mua với cái giá của máu và sự hy sinh lớn lao. Một người không thể làm gì khác hơn là tạ ơn Đức Chúa Trời vì nguyên tắc vinh hiển này. Chúng ta có đặc quyền được trực tiếp đến với Đức Chúa Trời. Chúng ta có đặc quyền của sự tự do cá nhân và trách nhiệm trước mặt Chúa. Chúng ta thảy đều như nhau trước mặt Đức Chúa Trời. Đây là một điểm khác biệt vinh hiển. Sự điều khiển nguyên tắc này Lẽ thật mà chúng ta vui thích cũng có những nguy hiểm của nó. Có một mối hiểm họa lớn nếu sự tự do bị hiểu lầm là sự cho phép, hành động mà không quan tâm đến giới hạn Thánh Kinh và đạo đức. Tự do cá nhân và trách nhiệm giải trình với Đức Chúa Trời là một đặc quyền có một trách nhiệm cặp theo. Sự tự do là điều Chúa ban. Điều đó có nghĩa là ự tự do chỉ có thể được thể hiện cách hoàn hảo nhất dưới sự điều khiển của Ngài. Điều này không có nghĩa là tình trạng hỗn loạn. Tự do không có nghĩa là sự cho phép làm bất cứ điều gì mình muốn. Thái độ như thế sẽ tiêu diệt sự tự do. Sự điều khiển chủ yếu của chúng ta là quyền làm Chúa của Đức Chúa Jêsus Christ. Ngài là Thẩm Quyền trên Hội Thánh. Ngài ban sự tự do. Ngài phải là Đấng duy nhất mà chúng ta dâng tặng sự điều khiển trọn vẹn cuộc đời chúng ta cho Ngài. Khi chúng ta đầu phục Ngài, chúng ta sẽ tiếp tục được hưởng sự tự do thật, nhưng nó không mất giá trị của mình bởi việc trở thành sự cho phép. Hãy đọc trong Phi-líp 2:9-11 và Cô-lô-se 1:18. Đấng Christ phải có uy quyền tối cao trên mọi thứ. Bất cứ thứ gì trái ngược với ý muốn của Ngài đều vi phạm nguyên tắc. Sự điều khiển thứ hai là Đại Mạng Lệnh đi khắp thế gian, môn đồ hóa mọi người (Ma-thi-ơ 28:19-20). Chúa đã ban mạng lệnh cho Hội Thánh để hoàn thành. Mạng lệnh đó là lời cuối cùng của Ngài trước khi Ngài rời trần gian. Thực hiện nó quả là điều quan trọng. Nhiều Hội Thánh và các hệ phái đã kết hợp Đại Mạng Lệnh trong hiến chương của mình. Bất cứ cá nhân nào hay Hội Thánh nào cố tình làm giảm thiểu Mạng Lệnh này là đã vi phạm nguyên tắc. Sự điều khiển thứ ba là chính Hội Thánh. Đức Chúa Jêsus đã thiết lập Hội Thánh. Ngài phán trong 16:18 rằng đây là Hội Thánh của Ngài. Hội Thánh được thành lập để tiến hành các nhiệm vụ liên quan đến Đại Mạng Lệnh. Nhưng bất cứ điều gì ngăn trở sự thông công trong Hội Thánh này là trái ngược với ý muốn của Ngài và đã vi phạm nguyên tắc. Điều này được áp dụng cho cả Hội Thánh địa phương cũng như Hội Thánh cộng đồng. Hãy đọc I Cô-rinh-tô 3:16-17. Từ “anh em” trong “anh em là đền thờ của Đức Chúa Trời” ở đây là số nhiều, ám chỉ Hội Thánh. Văn mạch cho thấy rằng phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời hay Hội Thánh của Ngài là một vấn đề rất nghiêm trọng. Sự điều khiển thứ tư là trách nhiệm của chúng ta đối với những người khác. Chúng ta là những tạo vật xã hội. Chúng ta ở trong một thế giới của nhiều người, và chúng ta lệ thuộc lẫn nhau và có trách nhiệm với nhau. Cơ Đốc nhân không sống trong khoảng không. Chúng ta không thể nói như Ca-in rằng, “Tôi là người giữ em tôi sao?” Là những tín hữu, chúng ta là những người gìn giữ anh em mình. Chúa chúng ta minh họa điều này rất rõ ràng qua ví dụ về người Sa-ma-ri nhơn lành (Lu-ca 10:29-38). Chúng ta cũng thấy điều này trong các thư tín của Phao-lô, trong I Cô-rinh-tô 8:12-13 và Ga-la-ti 6:2. Chúng ta có trách nhiệm đối với những người chung quanh chúng ta: trách nhiệm là những chứng nhân, trách nhiệm là những Cơ Đốc nhân đem sự khích lệ đến cho người khác. Chúng ta không bao giờ được tự do làm điều chi có hại đến người khác, hay cản trở người khác đến với Đấng Christ. Nguyên tắc của chúng ta về sự tự do cá nhân và trách nhiệm giải trình với Đức Chúa Trời được dựa trên sự dạy dỗ của Thánh Kinh Tân Ước về chức tế lễ của những tín hữu. Trong mỗi phân đoạn nơi mà chức tế lễ của những tín hữu được đề cập đến, từ ngữ đều ở số nhiều. Giáo lý này không dạy một chủ nghĩa cá nhân khắc nghiệt. Nó dạy một sự tự do đẹp đẽ cho mỗi tín hữu trên phương diện của một cộng đồng. Chúng ta có trách nhiệm đối với người khác và cho người khác. Sự tự do vinh hiển của chúng ta sẽ vẫn còn là một sự tự do chừng nào chúng ta để cho nó ở dưới sự điều khiển của những điều chúng ta đã đề cập bên trên. Chúng ta phải ở dưới quyền làm Chúa của Đấng Christ, vâng theo Đại Mạng Lệnh, hoạt động cách năng nỗ vì ích lợi toàn diện của Hội Thánh và chịu trách nhiệm đối với những người chung quanh chúng ta. Chúng ta được tự do, nhưng chúng ta không được phép lạm dụng tự do. Chúng ta sử dụng sự tự do của mình trong mức độ nào thì cũng phải giữ nó ở trong mức độ đó. Trong mức độ nào chúng ta lạm dụng nó, thì cũng trong chính mức độ đó chúng ta đã đánh mất nó.

ĐIỀU KHÁC BIỆT CỦA TÍN HỮU BÁP TIT

Một ai đó có thể hỏi làm thế nào một người có thể nhận ra được một Hội Thánh Báp-tít. Điều gì đặc trưng cho Hội Thánh này? Dầu rằng có một nguyên tắc điều khiển chức năng của một Hội Thánh Báp-tít, nhưng những phẩm chất gì khiến cho nó khác biệt so với các Hội Thánh Cơ Đốc khác? Chương này sẽ cung cấp một bảng tóm tắt 8 điều khác biệt mà những Hội Thánh Báp-tít đã duy trì với nhiều cấp độ quan trọng khác nhau suốt qua lịch sử của họ. Mục đích của tôi là giúp đỡ bạn hiểu được những niềm tin Báp-tít bằng cách cung cấp một danh sách đơn giản với sự giải thích tối thiểu. Chúng ta không thể dựa vào bất cứ sự liệt kê có thẩm quyền nào về những khác biệt của Hội Thánh Báp-tít. Nhiều tác giả Báp-tít có những danh sách khác nhau. Một số thêm vào một sự khác biệt cơ bản mà những người khác lại xem đó là thứ yếu. Những người khác liệt kê ba, năm, hay hơn nữa. Nhưng tất cả những tín hữu Báp-tít sẽ đồng ý rằng những khác biệt được liệt kê ra đây đều có ý nghĩa đối với vị trí của chúng tôi, ngay cả khi họ không liệt kê tất cả cách riêng rẽ. Chúng tôi gọi những cái này là những niềm tin đặc biệt của các Hội Thánh Báp-tít. Mặt khác, chúng tôi cũng nhận biết rằng có nhiều Hội Thánh và các hệ phái khác cũng nắm giữ một số trong số những giáo lý này nữa. Những điểm phân biệt này được trình bày cách khác nhau từ sự tuyên xưng đức tin, dầu rằng hầu hết những điều đặc biệt này đều được bao hàm hay ám chỉ trong bài tín điều. Nhiều Hội Thánh riêng lẻ có những lời tuyên xưng đức tin của riêng họ, và hầu hết các hệ phái đều có một loại tuyên xưng đức tin nào đó dầu rằng hệ phái đó là phi tín điều trong vị trí cơ bản của mình. Những lời tuyên xưng đức tin về bản chất đều mang tính giáo lý. Những tín hữu Báp-tít tin nơi mọi giáo lý lớn của niềm tin Cơ Đốc như đã từng được phát biểu trong những tín điều lịch sử. Những điểm đặc biệt chúng tôi liệt kê sau đây không mang tính giáo lý nhiều lắm. Tám điểm khác biệt này đều ở dạng tóm tắt vì hết thảy đều được đề cập đến cụ thể hơn ở trong cuốn sách này. Một số có thể trùng lắp. 1) Thánh Kinh Tân Ước là nguyên tắc duy nhất và đầy đủ cho đức tin và nhiệm vụ. Chúng tôi tin rằng cả Kinh Thánh là lời khải thị của Đức Chúa Trời, nhưng chính Thánh Kinh Tân Ước đem đến cho chúng ta thẩm quyền trên đức tin và hoạt động của Hội Thánh. Thánh Kinh Cựu Ước là lời tiên tri và sự chuẩn bị cho giao ước mới, tức là thời kỳ Hội Thánh. Chúng tôi tin rằng Chúa chúng ta đã hoàn tất giao ước cũ và ban cho chúng ta giao ước mới để dẫn dắt Hội Thánh trong thời điểm hiện tại. Điều này cũng khẳng định thêm rằng chúng tôi không có một tín điều hay lời tuyên xưng đức tin nào ràng buộc Hội Thánh. Chúng tôi tin rằng có những giá trị trong các tín điều và những lời tuyên xưng đức tin như là sự xác nhận điều chúng tôi hiểu biết về giáo lý Tân Ước, nhưng không có cái nào trong số những điều này có thẩm quyền trên đức tin và công việc của Hội Thánh. 2) Đặc quyền của mỗi cá nhân là được trực tiếp đến gần Đức Chúa Trời thông qua Đức Chúa Jêsus Christ. Điều này được biết như là chức tế lễ phổ quyết của tín hữu. Chức tế lễ duy nhất chúng tôi biết trong Thánh Kinh Tân Ước là chức tế lễ của mỗi tín hữu trong Đấng Christ. Không một con người hay một tổ chức loài người nào có thể ngăn trở mối quan hệ giữa một linh hồn và Đức Chúa Trời. Hơn nữa, điều này cũng đặt để mỗi người ở một bình diện ngang trước mặt Chúa. Nó tháo gỡ mọi sự phân biệt giữa những người tín hữu và những người ngoại đạo. Ý tưởng “trực tiếp đến gần” này làm nền tảng cho tất cả những người khác mà chúng tôi thân thiết gọi là những tín hữu Báp-tít. 3) Hội Thánh và chính quyền hoàn toàn tách biệt với nhau trong những lĩnh vực riêng của mình. Chính quyền không can hệ gì đến các chức năng tôn giáo riêng biệt của Hội Thánh. Nó bảo đảm sự tự do hoàn toàn cho mọi công dân của mình trong sự thờ phượng tùy theo tiếng gọi của lương tâm họ. Nhà nước không được để cho bất cứ niềm tin tôn giáo đặc biệt nào dự phần trong công việc của chính phủ, cũng không được từ chối bất kỳ ai tham gia vào các hoạt động của chính phủ chỉ vì họ gia nhập một tôn giáo nào đó. Hội Thánh không can dự vào công việc của chính quyền trừ khi nó dấy lên trong dân chúng quan điểm chống lại Thánh Kinh hay luân thường đạo lý. Một tín hữu Báp-tít thật sẽ cố gắng duy trì sự tách biệt này và sự tự do thật cho mọi người muốn thờ phượng theo như họ muốn. 4) Hệ thống lãnh đạo của Hội Thánh có hình thức đơn giản và dân chủ. Một hệ thống lãnh đạo dân chủ được gọi là hình thức giáo đoàn. Điều này có nghĩa là mỗi thành viên cũng như mục sư trong một Hội Thánh Báp-tít đều có cùng quyền hạn như những thành viên khác. Chúng tôi ý thức rằng các mục sư có quyền trong các vai trò lãnh đạo của mình với tư cách là những người được Đức Chúa Trời kêu gọi và được tín hữu trong Hội Thánh bầu cử cách dân chủ, nhưng trong việc bỏ phiếu cho các chính sách hay các quyết định, thì phiếu bầu của mục sư cũng chỉ ngang hàng với phiếu bầu của những tín hữu bình thường khác. Đối với chức vụ lãnh đạo hệ phái cũng như vậy. Những người lãnh đạo hệ phái có những quyền hạn đáng kể trong cương vị những người lãnh đạo được Đức Chúa Trời kêu gọi và được Hội Thánh bầu cử cách dân chủ, nhưng trong việc bỏ phiếu cho các đặc quyền, lá phiếu của họ cũng không có giá trị cao hơn bất cứ đại biểu nào khác tại các hội đồng khu vực hay toàn quốc. Mỗi Hội Thánh cũng có sự độc lập và sự tự trị riêng của mình trong nhiệm vụ địa phương, dầu vậy mỗi Hội Thánh đều phải nhìn nhận sự cần thiết phụ thuộc lẫn nhau trong mối thông công rộng lớn hơn. Các Hội Thánh cùng làm việc với nhau trong một mối liên hệ giáo phái tự nguyện để hỗ trợ cho công tác chứng đạo hiệu quả và công tác phục vụ trên thế giới. 5) Phép Báp-têm chỉ được thực hiện cho các tín hữu và chỉ thực hiện bằng phương cách dìm mình xuống nước. Tiêu chuẩn để được báp-têm không phải là vấn đề tuổi tác, nhưng là đức tin. Báp-têm theo sau sự tin cậy Đấng Christ. Đối tượng chịu Báp-têm phải là người đủ lớn để hiểu biết quyết định của đức tin trong Đấng Christ và phải quyết định trước khi người đó chịu Báp-têm. Chỉ có Báp-têm bằng cách trầm mình trong nước là phù hợp với Thánh Kinh Tân Ước. Chỉ có phương pháp này mới thật sự nói lên đầy đủ ý nghĩa biểu tượng liên quan đến thánh lễ này. Không được thực hiện bất cứ một phương pháp thay thế nào khác, vì nó sẽ vi phạm phương thức của Thánh Kinh Tân Ước. Phép Báp-têm không cứu rỗi ai cả. Nếu một người có thể trạng không được khỏe để có thể chịu Báp-têm, thì anh ta vẫn được cứu. Nhưng Báp-têm là cần thiết cho sự vâng phục Đấng Christ cách trọn vẹn, trừ khi ai đó rõ ràng bị trở ngại. 6) Tư cách thuộc viên của Hội Thánh chỉ dành cho những người được tái sinh. Đây là điều mà các Hội Thánh Báp-tít quan tâm: Chỉ những ai đã có một kinh nghiệm đức tin thật nơi Đấng Christ mới được trở thành thuộc viên Hội Thánh. Bất cứ ai muốn gia nhập một Hội Thánh Báp-tít phải có bằng chứng về đức tin cá nhân nơi Đấng Christ. Nếu những người chưa được tái sanh trở thành thuộc viên của Hội Thánh, thì sẽ sớm dẫn đến một Hội Thánh yếu đuối và có thể có những việc làm không tin kính Chúa. Đây là tình trạng trong hầu hết các Hội Thánh tại đất nước chúng tôi vào nửa đầu thế kỷ 18. Nó đã dẫn đến sự cần thiết phải có một Cơn Thức Tỉnh Vĩ Đại do Đức Chúa Trời thực hiện vào khoảng giữa thế kỷ. 7) Đấng Christ là Đầu Hội Thánh. Đức Chúa Jêsus Christ phải là Chúa của mọi chương trình và hành động của mỗi Hội Thánh. Không một nhóm hay một cá nhân nào có thể chế ngự những ước muốn của các thành viên khác trong một Hội Thánh Báp-tít. Tất cả đều có trách nhiệm giải trình trước và dưới sự dẫn dắt của Đấng Christ. Không một hành động nào của Hội Thánh được phép trái lại ý muốn Ngài. William Cleaver Wilkinson, một tín hữu Báp-tít nổi tiếng lúc sinh thời, nay đã quá cố, ông đã viết trong tác phẩm đồ sộ của mình có tiêu đề Nguyên tắc Báp-tít (The Baptist Principle), như sau, “Nguyên tắc tổ chức thật của các Hội Thánh Báp-tít có thể được xác định trong bốn chữ: Vâng phục Đấng Christ.” Nguyên tắc này thể hiện sự đầu phục của những tín hữu Báp-tít dưới quyền làm Chủ tối cao của Đấng Christ. Sự vâng phục đó điều khiển sự tự do vinh hiển vốn thuộc về chúng ta, như là những Cơ Đốc nhân Tân Ước. 8) Sự truyền bá Phúc Âm cho toàn thế giới là trách nhiệm của chúng ta. Những tín hữu Báp-tít rất coi trọng Đại Mạng Lệnh (Ma-thi-ơ 28:19-20). Mỗi thành viên đều có trách nhiệm trong công tác chứng đạo. Sự tăng trưởng đáng lưu ý của các nhóm Báp-tít kết quả từ những cố gắng truyền giảng liên tục và gồm nhiều phương cách khác nhau. Sự nhấn mạnh này cũng lý giải cho sự quá nhấn mạnh về các công tác truyền giáo của các tín hữu Báp-tít và nhận ra họ nổi bật như là những tình nguyện viên trẻ cho công việc Chúa. Tám điểm trên đây tóm tắt những niềm tin rõ ràng của những người được gọi là Báp-tít. Các thành viên Hội Thánh cần phải thường xuyên ôn lại chúng để quen thuộc với chúng. Những điểm khác biệt này đóng góp vào một di sản giàu có mà bất cứ tín hữu Báp-tít nào cũng có thể tự hào. Việc mong muốn các phẩm tính này được hiểu biết khiến mỗi người trong chúng tôi ao ước chia sẻ các niềm tin này với người khác nhưng chúng tôi sẵn sàng chiến đấu cho sự tự do bày tỏ ý kiến của người khác.

TÍN ĐỒ CỦA HỘI THÁNH BÁP TÍT

Một kiểu mẫu dân sự độc đáo Đặc tính của bất kỳ tổ chức nào được quyết định phần lớn bởi tính chất của những người thuộc tổ chức đó. Bạn không thể tách rời các đặc trưng của bất kỳ nhóm nào ra khỏi đặc tính của những người hình thành nên nhóm đó. Sự vững chãi của một tòa nhà tùy thuộc vào chất liệu và phương cách được dùng trong lúc xây dựng. Phần nền móng không vững vàng sẽ làm hỏng cả tòa nhà. Hội Thánh là tòa nhà của Chúa. Hội Thánh được tạo nên bởi nhiều người, và sức mạnh của nó tùy thuộc sức mạnh của những người hình thành nó. Những kết luận về Hội Thánh và đặc trưng của Hội Thánh được xác định bởi những kết luận về đời sống của các thuộc viên. Thật rõ ràng là đã có những tiêu chuẩn nhất định cho vấn đề thuộc viên của Hội Thánh trong thời kỳ Tân Ước. Khám phá ra những tiêu chuẩn này là điều rất hữu ích. Chúng ta có thể xác định được nhiều điều qua cách dùng từ ecclesia, được bàn đến trong chương 2, vốn được dịch là “Hội Thánh” trong Thánh Kinh Tân Ước. Trong sự tổ chức của hội đồng Hy Lạp cũng như của Hội Thánh Tân Ước, một người phải đạt được những tiêu chuẩn nhất định nào đó thì mới được công nhận là một thành viên. Lẽ thật này được thể hiện rõ qua chính bản chất của Hội Thánh trong Thánh Kinh Tân Ước. Chúng tôi không muốn thêm những tiêu chuẩn trái với Thánh Kinh Tân Ước để áp dụng cho tình trạng thuộc viên của Hội Thánh, cũng không muốn bỏ qua bất cứ điều gì đã được dạy rõ ràng trong đó. Một kinh nghiệm cải đạo Tiêu chuẩn đầu tiên là một kinh nghiệm cải đạo. Một điều thật rõ ràng trong Thánh Kinh Tân Ước là: những người là thuộc viên của Hội Thánh đã có một kinh nghiệm đức tin rõ ràng trong Đấng Christ. Đời sống của họ khác biệt so với hết thảy mọi người ở ngoài Hội Thánh. Chúng ta hãy lưu ý một số ví dụ từ Thánh Kinh Tân Ước. Khi trò chuyện với Ni-cô-đem, một nhà lãnh đạo tôn giáo quan trọng thời đó, Chúa Jêsus phán, “Nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời” (Giăng 3:3). Ni-cô-đem từng dạy nhiều về tôn giáo và Đức Chúa Trời, đã phải học một lẽ thật, đó là một kinh nghiệm cải đạo, rõ ràng là điều cần thiết cho một con người để biết Đức Chúa Trời. Sự tái sanh là cách tốt nhất để mô tả kinh nghiệm này. Như tôi đã đề cập trước đây, từ Cơ Đốc nhân là một tên hiệu không phải do chính những Cơ Đốc nhân lựa chọn. Họ đã được gọi là “những Christ nhỏ” vì họ là những người sống rất khác biệt. Họ giống Đấng Christ. Họ không nhận được tên gọi này từ những người Do Thái vì những người Do Thái sẽ chẳng bao giờ gọi họ là Cơ Đốc nhân hay những “Mê-si nhỏ”. Họ đã không lựa chọn tên đó cho mình. Chính những người ngoại giáo tại An-ti-ốt nhận thấy rằng họ sống giống như Đấng Christ và khác biệt hẳn so với mọi người khác, và những người này đã gọi họ là Cơ Đốc nhân. Danh từ Cơ Đốc nhân chỉ được dùng 3 lần trong Tân Ước. Trong Công vụ 11:26, chúng ta đọc thấy, “Ấy là ở thành An-ti-ốt, người ta bắt đầu xưng môn đồ là Cơ-rê-tiên.” Từ này được dùng một lần nữa trong 26:28, khi vua Ac-ríp-ba nói với Phao-lô, “Thiếu chút nữa ngươi khuyên ta trở nên tín đồ Đấng Christ!” Lần thứ ba từ này được chép trong I Phi-e-rơ 4:16, Phi-e-rơ viết, “Nhưng nếu có ai vì làm tín đồ Đấng Christ mà chịu khổ, thì đừng hổ thẹn.” Cả ba phần Kinh Thánh này đã xác định rõ ràng ba phẩm chất của những Cơ Đốc nhân đầu tiên. Trước hết, những tín hữu là những người khác biệt. Xuyên suốt Thánh Kinh Tân Ước đầy dẫy những bằng chứng cho thấy đời sống của những người tin nơi Đấng Christ – đối lập với những người ở xung quanh mình. Chúa Jêsus phán trong Giăng 15:19, “Nếu các ngươi thuộc về thế gian, thì người đời sẽ yêu kẻ thuộc về mình, nhưng vì các ngươi không thuộc về thế gian và ta đã lựa chọn các ngươi giữa thế gian, bởi cớ đó người đời ghét các ngươi.” Sự khác biệt về đời sống là một phẩm chất rõ ràng. Thứ hai, các Cơ Đốc nhân có một kinh nghiệm rõ ràng. Một điều gì đó mới và khác lạ đã diễn ra trong đời sống họ. Đó là một kinh nghiệm mà họ có thể chia sẻ cho người khác. Sứ đồ Phao-lô nói trong E-phê-sô 2:1-2 rằng, “Còn anh em đã chết vì lầm lỗi và tội ác mình, đều là những sự anh em xưa đã học đòi, theo thói quen đời này, vâng phục vua cầm quyền chốn không trung, tức là thần hiện đương hành động trong các con bạn nghịch.” Kinh nghiệm đó cũng cơ bản như sự chuyển đổi từ sự chết sang sự sống. Thứ ba, sự sống mới này có một khởi điểm đặc biệt. Mỗi người đều có một sự khởi đầu vật lý. Mỗi Cơ Đốc nhân có một sự khởi đầu thuộc linh. Không một cá nhân nào có được loại sự sống này ngay từ khi mới ra đời về phần thuộc thể. Người tín hữu có thể không nói được thời điểm nào, nhưng anh ta phải biết có một sự khởi đầu cho sự sống thuộc linh của mình. Chúng ta đọc thấy trong thư Rô-ma 6:20, 22 rằng, “Vả, khi anh em còn làm tôi mọi tội lỗi, thì đối với sự công bình anh em được tự do… Nhưng bây giờ đã được buông tha khỏi tội lỗi và trở nên tôi mọi của Đức Chúa Trời rồi, thì anh em được lấy sự nên thánh làm kết quả, và sự sống đời đời làm cuối cùng.” Đời sống Cơ Đốc có một khởi đầu đặc biệt. Bây giờ chúng ta có thể hỏi, “Đời sống mới này đã bắt đầu như thế nào?” hay “Làm thế nào để một người có thể nhận được?” Trước hết phải có sự nhận biết về nhu cầu. Trừ khi một người nhận biết rằng anh ta hư mất vì không có Đấng Christ, nếu không sẽ chẳng có mảy may nào để nhận được sự sống mới hay kinh nghiệm cải đạo. Trong Rô-ma 3:23 chép rằng, “Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.” Kế đến, một người phải xưng nhận nhu cầu đó bằng cách ăn năn những tội lỗi cá nhân của mình. Sự cứu rỗi là một vấn đề cá nhân. Mỗi người phải đối diện với tội lỗi của chính mình và cần đến Cứu Chúa. Khi có một ai đó nêu lên ý tưởng cho rằng một số người Ga-li-lê bị giết là những tội nhân đáng tởm, Đức Chúa Jêsus đã hai lần phán, “Nếu các ngươi chẳng ăn năn, thì hết thảy sẽ bị hư mất như vậy” (Lu-ca 13:3). Thật dễ dàng khi nghĩ đến những người khác trong tình trạng tội nhân và nhu cầu cần sự ăn năn mà không nghĩ đến chính mình cần phải ăn năn. Mỗi người phải đối diện với chính mình trong mối tương giao giữa mình với Đức Chúa Trời. Thứ ba, một người phải cầu xin sự tha thứ và sự tẩy sạch từ nơi Đức Chúa Trời. Trong I Giăng 1:9, Lời Chúa chép, “Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha lỗi cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác.” Kinh nghiệm sự tha thứ và gánh nặng tội lỗi được cất đi quả thật là một kinh nghiệm đẹp đẽ. Thứ tư, Đấng Christ phải được tiếp nhận vào đời sống bởi đức tin. Một lẽ thật rất kỳ diệu là Ngài sẽ sống đời sống của chính Ngài trong chúng ta. Điều đó biến khởi điểm của đời sống Cơ Đốc thành sự tái sanh. Trong Giăng 1:12-13 Lời Chúa chép, “Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài, là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy.” Cuối cùng, sự tạ ơn cần được dâng lên cho Chúa vì công việc cứu rỗi của Ngài. Tạ ơn Ngài là một hành động của đức tin, trong niềm tin rằng Ngài đã làm điều Ngài đã hứa. Điều mà việc này sẽ làm cho người mới cải đạo thật đáng ngạc nhiên. Đôi lúc thật khó để tạ ơn Chúa, nhưng sự tạ ơn là sự xác quyết hành động đức tin. Những bước này, được thực hiện trong sự cải đạo thật và đức tin, sẽ đưa một người vào đời sống mới. Nhiều nhóm nghĩ rằng cần phải tiếp nhận những người chưa phải là Cơ Đốc nhân vào Hội Thánh, để họ có thể học biết Đấng Christ và đặt niềm tin nơi Ngài. Các Hội Thánh quốc doanh ở Châu Âu đã đi theo chính sách này. Các Hội Thánh trong những ngày đầu của đất nước chúng ta (Mỹ) cũng như vậy. Dầu rằng người ta đã đến (nước Mỹ) vì cớ sự tự do tôn giáo, những nhà lãnh đạo Hội Thánh đòi hỏi rằng mỗi người phải là thành viên của Hội Thánh thì mới được công nhận quyền công dân của bang. Kết quả là nhiều người trở thành các thành viên của Hội Thánh mà không biết đến kinh nghiệm cải đạo là gì. Một Hội Thánh đầy dẫy những con người chưa cải đạo sẽ sớm đi đến chỗ sụp đổ. Làm thế nào chúng ta có thể nói về Hội Thánh như là muối của đất khi mà nó đã trở nên trộn lẫn với thế gian và không còn “thêm mùi vị” cho thế giới với đặc tính tin kính của mình nữa? Làm thế nào chúng ta có thể nói về Hội Thánh như là ánh sáng của thế gian trong khi thế gian là một phần của Hội đó? Một thuộc viên của Hội Thánh phải có một kinh nghiệm cải đạo. Điều này là thật trong Hội Thánh Tân Ước, và các Hội Thánh ngày nay cũng cần thiết phải như vậy.

SỰ XƯNG NHẬN ĐỨC TIN

Đa số người thấy dễ dàng nói về những biến cố và các vấn đề đời sống. Chúng tôi đặc biệt thích kể về những kinh nghiệm thú vị của mình. Tại sao chúng ta cứ thường phải làm thinh về kinh nghiệm thuộc linh của mình? Gặp gỡ Đấng Christ là một kinh nghiệm quan trọng và lạ kỳ nhất mà một người có thể có. Chúng tôi tin rằng một trong những tiêu chuẩn cho việc xét tư cách thuộc viên là sự tuyên xưng đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ bằng lời. Còn có cách nào khác hơn để Hội Thánh biết được liệu ứng viên đó đã có một kinh nghiệm cải đạo hay chưa không? Hãy lắng nghe Lời Chúa. Thi-thiên 66:16 nói rằng: “Hỡi hết thảy người kính sợ Đức Chúa Trời, hãy đến nghe, thì tôi sẽ thuật điều Ngài đã làm cho linh hồn tôi.” Chúng ta cũng đọc trong Thi 107:2 rằng: “Các người Đức Giê-hô-va đã chuộc khỏi tay kẻ hà hiếp hãy nói điều đó.” Đức Chúa Jêsus phán trong Mác 8:38 rằng: “Vì giữa dòng dõi gian dâm tội lỗi này, hễ ai hổ thẹn về ta và đạo ta, thì Con người sẽ hổ thẹn về kẻ ấy, khi ngự trong sự vinh hiển của Cha Ngài mà đến với các thiên sứ thánh.” Rồi một lần nữa Phao-lô nói trong Rô-ma 10:9-10 rằng: “Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jêsus ra, và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu, vì tin bởi trong lòng mà được xưng công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi.” Kinh Thánh rõ ràng nhấn mạnh nhu cầu của sự tuyên xưng đức tin. Vì thế, Hội Thánh Báp-tít muốn mỗi người nói lời tuyên xưng đức tin nơi Đấng Christ. Có thể nói điều này giữa một nhóm người trong Hội Thánh, hoặc có thể với một người đại diện, chẳng hạn một chấp sự hoặc một trưởng lão, sau đó sẽ giới thiệu cho toàn thể Hội Thánh. Việc làm này có những mục tiêu rõ ràng. Đề cập đến kinh nghiệm thuộc linh, một người nào đó có thể nói, “Đây là một vấn đề cá nhân.” Chúng ta có thể lưu tâm đến việc này, nhưng làm thế nào Hội Thánh có thể biết được liệu cá nhân đó đã có kinh nghiệm cải đạo hay chưa trừ khi ứng viên đó tuyên bố đặt niềm tin của mình nơi Đấng Christ? Rất hiếm khi có người thấy hầu như hoàn toàn không thể công bố niềm tin của mình giữa một nhóm người. Khi đó thì có thể sắp xếp để người đó viết ra lời chứng của mình và nhờ người khác đọc lên. Sự tuyên xưng đức tin ra bên ngoài Trong Tân Ước, người ta chứng thực đức tin của mình bằng cách chịu phép Báp-têm. Phép Báp-têm mô tả sự thể hiện ra bên ngoài niềm tin bên trong của người tín hữu. Phương cách Báp-têm được thấy trong Tân Ước tuyên bố sự vinh hiển của sự sống chúng ta trong Đấng Christ. Một người chịu dìm mình xuống nước thể hiện sự đồng nhất của mình với Đấng Christ. Người tín hữu bị chôn trong nước rồi bước ra khỏi đó có ý nghĩa là người đó đã trải qua sự cải đạo từ sự chết sang sự sống, vì Đức Chúa Jêsus đã chịu chết, được chôn, và đã sống lại. Nó cũng nói lên rằng người tín hữu đang sống một đời sống mới. Sự chôn mình trong nước tượng trưng rằng Cơ Đốc nhân đã chết về đời sống cũ. Nhiều Hội Thánh không làm theo phương thức Báp-têm của Thánh Kinh Tân Ước. Phương thức của Thánh Kinh Tân Ước tức là trầm mình xuống nước và phương thức này chỉ dành cho những ai đã đặt niềm tin của mình nơi Đức Chúa Jêsus Christ. Đôi lúc những tín hữu Báp-tít bị kết tội là đã biến việc làm Báp-têm thành vấn đề trung tâm của các Hội Thánh họ. Điều này không đúng. Những tín hữu Báp-tít phần lớn quan tâm đến việc mỗi người có một niềm tin cá nhân nơi Chúa Jêsus. Niềm tin đó khiến một người trở thành con cái Đức Chúa Trời. Phép Báp-têm không cứu rỗi ai. Nó chẳng thể thay đổi một đời sống. Báp-têm theo sau đức tin và Báp-têm thể hiện ra bên ngoài điều gì đó đã xảy ra rồi. Những người được tham dự vào mối thông công trước hết đã được Báp-têm. Báp-têm trở thành dấu hiệu cho đức tin của một người – như việc mặc một bộ đồng phục vào. Khi gia nhập hải quân tôi hãy còn trẻ, tôi đã trúng tuyển tại Minneapolis, nhưng tôi đã không nhận được bộ đồng phục mãi cho đến ba tuần sau, khi tôi tôi tới Boston. Trong vòng ba tuần, tôi đã gia nhập hải quân đủ lâu như những người khác để có thể đi biển, nhưng chẳng ai có thể biết tôi là lính hải quân vì tôi không có một bộ đồng phục. Nhiều người đã đặt niềm tin của mình nơi Đức Chúa Jêsus Christ, nhưng chưa bao giờ có sự thể hiện điều đó ra bên ngoài – và vì thế những người khác không biết về kinh nghiệm thuộc linh của họ. Báp-têm nên là dấu hiệu cho việc cắt bỏ những sợi dây trói chặt một người với đời sống cũ không có Đấng Christ. Bởi vì sự dìm mình vào nước là một sự minh họa sinh động cho sự chia cắt này, đa số các hệ phái sử dụng hình thức Báp-têm này trong các khu vực truyền giáo ngoại quốc của họ. Báp-têm tượng trưng cho một sự tuyệt giao thực sự với mọi ràng buộc của ngoại giáo. Tại nhiều quốc gia, người dân có thể dễ dàng tuyên bố tiếp nhận Đấng Christ và có thể trở nên năng động trong công việc của Hội Thánh mà không gây nên một sự đối kháng nào. Sự đối kháng thật sự xảy đến là vào thời điểm họ chịu Báp-têm. Sự đồng ý dìm mình xuống nước trở thành một bài thử nghiệm cho tính chân thật của một tín hữu. Một bước đi như vậy mang ý nghĩa rõ ràng là sự tuyệt giao thật với đời sống cũ. Thánh Kinh Tân Ước đã dạy, và Hội Thánh hiện đại phải tuân theo, rằng sự Báp-têm là một điều kiện cho tư cách thuộc viên Hội Thánh. Việc tiếp nhận Đấng Christ đưa một người vào mối thông công với những Cơ Đốc nhân khác. Việc chịu Báp-têm công bố sự thông công của một người với những Cơ Đốc nhân khác. Tư cách thuộc viên Hội Thánh là một sự thể hiện rõ ràng của tư cách thuộc viên của chúng ta trong Hội Thánh phổ thông. Những sự thể hiện rõ ràng kinh nghiệm thuộc linh của chúng ta mang tính quyết định đối với đời sống Cơ Đốc hiệu quả của chúng ta. Một đời sống Cơ Đốc Ở phần đầu chương, tôi đã lưu ý rằng Hội Thánh được đặc trưng hóa bởi đời sống các thuộc viên của mình. Đây là một trong những lĩnh vực yếu kém của đời sống Hội Thánh ngày nay. Không chỉ chúng ta nhấn mạnh đến kinh nghiệm cải đạo, sự tuyên xưng đức tin, và sự thể hiện đức tin ra bên ngoài qua việc làm Báp-têm mà thôi, nhưng chúng ta phải thấy đức tin được bày tỏ trong đời sống. Phao-lô nói trong II Cô-rinh-tô 5:17: “Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, này mọi sự đều trở nên mới.” Cơ Đốc nhân Tân Ước được đánh dấu bởi đời sống khác biệt hẳn so với những người xung quanh mình. Chắc chắn một điều, những người trong Hội Thánh hiện đại cũng phải được đánh dấu bởi một đời sống khác biệt vì họ thuộc về Chúa. Một cội nguồn của tình trạng yếu đuối của Hội Thánh chính là những đời sống không giống Đấng Christ trong các thành viên của nó. Sức mạnh của Hội Thánh phải được duy trì bởi việc nhất mạnh thường xuyên về tính thánh khiết của đời sống. Nếu Hội Thánh quá sao lãng trước vấn đề lối sống Cơ Đốc, sự suy sụp sẽ cứ tiếp tục cho đến khi nào Hội Thánh không còn phản đối một chức vụ rao giảng Phúc Âm trọn vẹn – thứ Phúc Âm giải quyết tội lỗi. Để Hội Thánh trở nên hiệu quả, Hội Thánh phải trong sạch, phải có một mối thông công của những người tin vào việc sống đời sống tin kính. Mỗi Cơ Đốc nhân phải khám phá trách nhiệm cá nhân đối với Đức Chúa Trời, đối với chính họ và đối với những ai quan sát đời sống của Cơ Đốc nhân. Hãy xem kinh nghiệm của Giô-sép tại nhà Phô-ti-pha được chép trong Sáng-thế ký 39. Khi bị vợ Phô-ti-pha cám dỗ phạm vào một hành vi trái luân lý, Giô-sép đã nói, “Thế nào tôi dám làm điều đại ác dường ấy, mà phạm tội cùng Đức Chúa Trời sao?” Ông cũng cảm thấy một trách nhiệm đối với Phô-ti-pha và những người khác, cũng như chính bản thân mình. Cũng hãy xem trong I Cô-rinh-tô 5:1-13; 8:1-13, và trong Cô-lô-se 3:1-2. Thật thú vị khi thấy rằng những người bên ngoài Hội Thánh mong đợi những tín hữu thể hiện đời sống tin kính của mình. Hết lần này sang lần khác, ước muốn đó được thể hiện qua lời nói cũng như qua sách vở. Trong các quốc gia phát triển, một Cơ Đốc nhân mới thường không được trở thành một thuộc viên Hội Thánh cho đến khi anh ta đã sống đời sống Cơ Đốc qua khoảng thời gian thử thách. Khi đã chứng minh bằng đời sống thay đổi của mình rằng anh ta có một kinh nghiệm cải đạo thật sự, khi đó anh ta có thể hiệp nhất với Hội Thánh. Trong suốt thời kỳ những người Cộng Sản cai trị ở Đông Âu, một người mới cải đạo cần phải làm chứng để xác nhận rằng anh hay chị ta là một Cơ Đốc nhân thật và được chứng thực bởi một lối sống được thay đổi. Sau đó thì người đó mới được phép chịu Báp-têm và hiệp nhất với Hội Thánh. Một điều rõ ràng là chúng ta không có cùng những hoàn cảnh khó khăn như nhau. Nhưng chúng ta có cùng một Phúc Âm. Chúng ta có cùng một Chúa. Chúng ta cần những đời sống được biến đổi làm tiêu chuẩn cho tư cách thuộc viên Hội Thánh vì đó là Cơ Đốc giáo Tân Ước. Sự tiếp nhận vào Hội Thánh Khi bốn tiêu chuẩn nói trên đã được đáp ứng, một Hội Thánh sẽ biểu quyết tiếp nhận cá nhân đó với tư cách là hội viên của mình. Tư cách hội viên trong một Hội Thánh địa phương, như được bày tỏ trong Thánh Kinh Tân Ước, là hoàn toàn tự nguyện cả về hai phía, cá nhân người có tư cách đó và Hội Thánh. Cá nhân đó có thể gia nhập hoặc cũng có thể không tùy thuộc vào niềm tin và quyết định của anh/chị ấy. Cũng như thế, Hội Thánh có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận người muốn gia nhập. Các tín hữu Báp-tít tin rằng những tín hữu phải là một phần của Hội Thánh địa phương để làm thành ý muốn của Chúa, nhưng đây là một vấn đề mang tính chất tự nguyện vì mỗi tín hữu phải thực hiện quyết định của mình. Khi Hội Thánh địa phương lựa chọn quyết định của mình, Hội Thánh lựa chọn dựa trên nền tảng các tiêu chuẩn đã được đề cập đến ở trên. Nếu một người chứng tỏ rằng mình đã đáp ứng được những tiêu chuẩn đó, thì anh/chị ấy sẽ được nhận vào Hội Thánh. Một người khi đã trở thành thuộc viên của một Hội Thánh Báp-tít thường có thể được chuyển sang một Hội Thánh Báp-tít khác qua thư giới thiệu của Hội Thánh. Tức là người đó sẽ được nhận một lá thư chuyển hội và lời giới thiệu để anh ta có thể đến gia nhập vào một Hội Thánh Báp-tít khác. Nhưng nhiều Hội Thánh ngày nay đòi hỏi sự tuyên xưng đức tin ngay cả từ những người đến gia nhập bằng thư giới thiệu. Điều này là cần thiết vì đôi lúc các thuộc viên Hội Thánh chưa thực sự có kinh nghiệm cải đạo. Rồi một lần nữa, một người có thể hiệp nhất bằng kinh nghiệm. Điều này có nghĩa là cá nhân đó đã được Báp-têm theo phương thức của Thánh Kinh Tân Ước, nhưng đây không phải là một thành viên của Hội Thánh Báp-tít hay của bất kỳ (xin đọc tiếp)