Lời hứa cho một công dân mới

Câu gốc : “ Vả, anh em thảy đều chịu phép báp tem trong Đấng Christ, đều mặc lấy Đấng Christ vậy.” (Ga-la-ti 3:27).

Đọc Kinh Thánh : Ga-la-ti 3:23-28

 

Có người ví lá thư gởi cho Hội Thánh Ga-la-ti như một thanh gươm loé sáng trong tay một kiếm sĩ lừng danh.   Phao lô viết lá thư này trong lúc cá nhân ông đang bị công kích dữ dội và Phúc âm mà ông rao truyền cũng bị tấn công .

  • Nếu họ thành công, Cơ đốc giáo bị đặt dưới sự chi phối của phép cắt bì và dưới luật pháp thay vì do ân điển của Đức Chúa Trời.
  • Và nếu họ thành công, Cơ đốc giáo chỉ còn là một chi nhánh của Do Thái giáo và là sở hữu của người Do Thái. Chúng ta sẽ không bao giờ có cơ hội biết được tình yêu của Chúa Cứu Thế Jesus.

(1) Là một người có phẩm chất cao, có học thức, có địa vị trong xã hội, lại đầu phục Chúa Jesus nên Phao-lô khó tránh khỏi những chống đối từ kẻ bên ngoài và ganh tị từ kẻ bên trong. 

(2) Một người có tư tưởng cách mạng tôn giáo như Phao-lô khó lòng thoát khỏi sự công kích từ những kẻ có đầu óc thủ cựu, dốt nát.

(3) Một người có nhiều khải thị, có nhiều sáng kiến và hoạt động hăng say trong công việc của mình, không a dua theo đám đông thiển cận, không thể nào thoát khỏi lời dèm chê, chỉ trích.

1. Mũi dùi đầu tiên là nhắm vào chức vụ sứ đồ của ông

Nhiều người công kích cho rằng ông không phải là sứ đồ.  Họ có cái lý của họ vì trong Công vụ 1:21-22 , Lu-ca có nêu lên những tiêu chuẩn căn bản của một sứ đồ  để chọn người thay thế chỗ của Giu-đa , kẻ phản đồ đã tự tử. Một tiêu chuẩn quan trọng là “trong những kẻ đã theo chúng ta trọn lúc Chúa Jesus đi lại giữa chúng ta từ khi Giăng làm phép báp-tem cho đến ngày Chúa được cất lên khỏi chúng ta” và là một”chứng nhân về sự sống lại”. Như vậy muốn nhận chức vị sứ đồ, ứng viên phải tháp tùng với Chúa Jesus trong thời gian Ngài thi hành chức vụ trên đất và là nhân chứng về sự sống lại của Ngài. Rõ ràng, Phao-lô không đủ điều kiện này. Chẳng những không hội đủ mà trong quá khứ ông còn khét tiếng là kẻ bắt bớ Hội thánh.

Vì vậy, ngay từ đầu lá thư, Phao-lô trả lời sự công kích này:

– Ông cho biết chức vụ của ông không đến từ loài người, không ai ban chức đó cho ông mà chính ông nhận trực tiếp từ Đức Chúa Trời. Ông đã gặp Chúa Jesus mặt đối mặt trên đường đi Đa mách.

– Ngoài ra ông khẳng định ông không giảng một sứ điệp nhận từ con người mà là một sứ điệp ông nhận trực tiếp từ Chúa Cứu Thế Jesus Christ.

Người Do Thái, ngay cả những người Do Thái theo Cơ đốc giáo lúc bấy giờ tin rằng muốn trở thành một Cơ đốc nhân, trước hết người đó phải trở thành người Do Thái. Điều này có nghĩa là người đó phải được cắt bì, phải tuân theo luật pháp quy định. Theo Phao-lô, điều này hoàn toàn trái ngược với sự dạy dỗ của Chúa Jesus.  Vì theo đó, họ cho rằng sự cứu rỗi tùy thuộc hoàn toàn vào khả năng tuân giữ luật pháp và có thể tự mình đoạt được sự cứu rỗi mà không cần ai giúp đỡ. Trong khi đó theo Phao-lô, sự cứu rỗi hoàn toàn là vấn đề ân sủng. Ông cho rằng không ai có thể tự mình chiếm ân sủng của Đức Chúa Trời. Tất cả những gì mà con người có thể làm là tiếp nhận tình yêu của Chúa đã ban cho bằng đức tin và ngã mình vào sự thương xót của Chúa.

Người Do Thái sẽ thưa với Chúa : “ Xin Chúa xem.  Tôi đã cắt bì! Tôi giữ gìn luật pháp, đây là những công đức của tôi. Xin Ngài giao cho tôi sự cứu rỗi mà tôi đã tạo được?

Còn Phao-lô thì nói: “ ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. 9 Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình”  Ê-phê-sô 2:8-9

Theo Phao lô, điều trọng yếu không phải con người có thể làm gì cho Thượng đế mà là Thượng đế đã làm gì cho con người.

2. Mũi dùi thứ hai là nhắm vào đức tin và luật pháp.

Người Do Thái lý luận: “ Điều quan trọng nhất chi phối sinh hoạt quốc gia này là luật pháp. Đức Chúa Trời ban luật pháp đó cho Môi se và đời sống của chúng ta tùy thuộc vào điều đó.”  

Nhưng Phao lô đáp : “ Hãy nhìn lại! Ai là người sáng lập quốc gia Do Thái ? Ai là người được Đức Chúa Trời ban cho những lời hứa vĩ đại nhất? Tất nhiên là Ap ra ham. Câu hỏi là tại sao Áp ra ham được Đức Chúa Trời ban ơn ? Chắc chắn không do việc Áp ra ham tuân giữ luật pháp vì mãi 430 năm sau luật pháp mới được ban cho Môi se. Áp ra ham nhận được ân sủng Chúa ban vì đức tin của ông. Chúa bảo ông rời quê hương và ông đã ra đi, phó thác mọi sự cho Ngài. Chính đức tin đã cứu Ápraham chớ không phải việc làm theo pháp luật. Con cái thật của Áprahma không phải là người có chung huyết thống mà là có chung một đức tin, cùng đầu phục Đức Chúa Trời như Ápraham.

Lá thư Galati được xem như là một lá thư khẩn cấp để nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta không thể mua một vé về thiên đàng bằng công sức hay việc làm tốt lành trong lúc sống ở thế gian. Đức Chúa Trời không có hứng thú với những nỗ lực tự đánh bóng mình. Tôi nói khẩn cấp vì chuyến tàu sắp rờì bến mà biết bao nhiêu người vẫn mơ tưởng rằng việc làm lành lánh dữ, tu thân tích đức, giữ gìn đạo đức sẽ là vé tàu về thiên đàng.

Dĩ nhiên đây không phải là một thông điệp được nhiều người chấp nhận. .

THÍ DỤ: Tuần trước, có một người tín đồ thuật cho một người bạn của anh ta, cũng là một Cơ đốc nhân về một bài chia sẻ từ lâu của tôi trong đó tôi có nói tội phạm Timothy Mc Veigh, người đặt bom nổ tung cao ốc Murrah Federal Building ở Oklabama làm cho 168 người chết có thể được sống trên thiên đàng nếu trong giờ phút cuối cùng ông ta biết ăn năn về việc làm sát nhân của mình, xin Chúa Jesus tha tôi và tin nhận Chúa Jesus làm cứu Chúa của mình. Ông bạn Cơ đốc này không thích điều tôi nói rằng con người được cứu  không do hành động của mình mà bởi đức tin mà thôi . Ông ấy khó chịu vì ông ta tin tưởng rằng nếu mình làm điều lành đến một mức độ nào đó nhiều hơn tội của mình thì Đức Chúa Trời sẽ cho mình lên thiên đàng.

Thật lòng mà nói, ông bạn này đang tranh luận với Chúa chớ không phải với tôi.  Kinh Thánh nói rõ ràng vấn đề này. Chúng ta được cứu bởi đức tin mà thôi. 

ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời.  Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình”

Ê-phê-sô 2 : 8-9.

Mỗi người trong chúng ta, phải nhớ câu kinh văn này vì đó là căn bản của Cơ đốc giáo. Vậy xin mời đứng lên và cùng nhau đọc câu kinh thánh này.

***

Trong sách Galati, sau khi trình bày những luận cứ đánh đỗ những công kích về tín lý rồi,  Phao lô đưa ra một câu hỏi: Tại sao chúng ta quay lại với đời sống ngày xưa của mình trong khi Đức Chúa Trời ban cho chúng ta quá nhiều ân phước trong Chúa Cứu Thế?

Thật không hợp lý để quay về với luật pháp khi mà chúng ta khám phá rằng Đức Chúa Trời rất giàu có về ân điển và sẵn sàng ban cho loài người. Trong các ân điển đó có ân điển tha tội khi chúng ta tin nhận Chúa Jesus. Lý do duy nhất để chúng ta từ chối ân điển của Đức Chúa Trời là chúng ta không tin quyển Kinh Thánh là lời của Đức Chúa Trời.  

Đọc trong sách Galati đoạn 3 chúng ta khám phá những lời hứa của Chúa cho mọi tín đồ của Ngài. Nếu quý vị là môn đồ của Chúa , tất cả những hứa hẹn này đều có giá trị vì Ngài hứa với quý vị.  Những lời hứa này dành riêng cho các tín nhân không phân biệt tín đồ lâu năm hay tìn đồ mới làm báp têm ngày hôm nay, và không liên hệ đến việc làm tốt lành của quý vị.  Nếu sau này, có lúc nào quý vị mệt mõi, chán nãn, thất bại hãy nghĩ đến những lời hứa này của Chúa để lòng được an uỉ vì tất cả những lời hứa đó của Dức Chúa Trời là vì quý vị và cho quý vị. 

LỜI HỨA #1: MỘT SỰ TỰ DO MỚI

Trước khi đức tin chưa đến, chúng ta bị nhốt dưới sự canh giữ của luật pháp mà chờ đức tin phải bày ra.  Ấy vậy, luật pháp đã như thầy giáo đặng dẫn chúng ta đến Đấng Christ, hầu cho chúng ta bởi đức tin mà được xưng công bình.  Song khi đức tin đã đến, chúng ta không còn phục dưới thầy giáo ấy nữa. ” (Ga-la-ti 3:23-25).

Chắc chắn quý vị sẽ gặp câu hỏi: “ Nếu việc giữ luật pháp của Đức Chúa Trời không cứu được chúng ta thì tại sao Đức Chúa Trời trước tiên ban luật pháp đó cho chúng ta ?”

Galati 3: 15-25 đã giải thích rõ ràng câu hỏi này.

Phao lô cho chúng ta biết luật pháp được ban cho để chúng ta biết mình đã vấp phạm vào các điều luật pháp ngăn cấm và cho chúng ta biết chúng ta cần tìm đến Chúa Jesus để chữa trị. Luât pháp giống như máy MRI tiết lộ tất cả những bất thường tạo các chứng bịnh trong cơ thể và chúng ta phải trị liệu thì mới được sống.

Tuy nhiên dù chúng ta cố gắng đến đâu chúng ta cũng không thể giữ trọn vẹn luật pháp. Biết có bệnh, có điều không tốt trong cơ thể mà không dùng đúng thuốc thì không thể hết bệnh. Càng vấp phạm,  tội lỗi càng chồng chất, chúng ta không có lối thoát . Chúng ta từ từ bị chôn trong ngục tù của tội lỗi.  Chúng ta cần có người đến giải cứu.

Máy MRI đóng vai trò tìm bệnh.  Máy này không trị bệnh.

Luật pháp cho chúng ta biết tội lỗi. Luật pháp không làm cho chúng ta hết tội để trở thành người công bình.

Để hiểu đoạn kinh văn này, chúng ta phải quen thuộc với xã hội Hy Lạp thời bấy giờ. Trong xã hội Hy Lạp, các gia đình thường có dùng một tôi tớ đáng tin cậy, có phẩm hạnh tốt để giao trách nhiệm chăm sóc các con còn nhỏ của chủ nhà. Người này được Phao lô gọi là “thầy giáo” giúp các em tránh xa những chỗ nguy hiểm, tiếp nhận những điều hay điều phải và đưa đón đứa bé đi học. Anh ta không tham gia vào việc dạy học, chỉ đưa đón an toàn từ nhà đến trường rồi giao đứa bé cho nhà trường.  Phao lô nói chức năng của luật pháp cũng tương tự như vậy. Luật pháp có nhiệm vụ đưa con người đến với Chúa qua việc bày tỏ cho con người thấy tự mình không thể nào giữ trọn luật pháp. Khi người đó đến với Chúa rồi thì vai trò của luật pháp cũng chấm dứt. Từ đó con người nương cậy vào ân sủng của Chúa chứ không phải nơi luật pháp nữa.

Từ lúc trở thành con dân của Ngài, chúng ta thật sự được tự do, không còn bị chi phối bởi luật pháp để được cứu. Chúng ta tuân giữ luật pháp của Đức Chúa Trời chỉ vì đó là lời phán của Ngài mà chúng ta có bổn phận vâng lời, bởi lòng tôn kính Ngài chớ không tuân theo Luật pháp với mục đích để được cứu nữa.

Ngay lúc chúng ta đến với Chúa Cứu Thế Jesus để được cứu,  Đức Chúa Trời công bố sự công bình của chúng ta và bôi xóa hồ sơ cá nhân tội lỗi bất tuân của chúng ta. Luật phát trước đây đã buộc tội chúng ta bây giờ không còn hiệu lực nữa. Luật pháp không còn giữ chúng ta trong nhà tù của tội lỗi nữa.  Chúng ta được giải phóng tự do không còn bị áp lực là phải sống tốt lành như thế nào để mong được cứu nữa. Đó là một tự do thật sự. 

LỜI HỨA #2: MỘT DANH PHẬN MỚI  

Vì chưng anh em bởi tin Đức Chúa Jêsus Christ, nên hết thảy đều là con trai của Đức Chúa Trời.” (Ga-la-ti  3:26).

Đây là một lời công bố làm ngạc nhiên dân Do Thái và dân Hy lạp. Phaolô công bố rằng bất cứ ai tin vào Đức Chúa Jesus thì bây giờ là con trai (hay con gái) của Đức Chúa Trời. Danh phận của người tin Chúa được thay đổi. Trước đây chúng ta là con cháu của kẻ ác, bây giờ vì tin nhận Chúa, chúng ta được nhận vào gia đình của Đức Chúa Trời  và hoàn toàn có một danh phận mới: con của Đức Chúa Trời. Điều làm họ ngạc nhiên. Tất cả , hết thảy, không ngoại lệ, không ngoại trừ mà tất cả, nô lệ hay tự do, giàu hay nghèo, dốt hay học thức. Do Thái hay ngoại bang : Một khi tin nhận Chúa Jesus là Cứu Chúa của mình. Quý vị là con của Đức Chúa Trời.

Có một số người tin tưởng rằng vì Đức Chúa Trời tạo dựng con người nên tất cả mọi người đều là con của Ngài. Điều này không đúng với sự xác định của Phao-lô. Ông viết: “ bởi tin Đức Chúa Jêsus Christ, nên hết thảy đều là con trai của Đức Chúa Trời”.  Chúng ta tìm thấy ở đây một giới hạn rõ rệt. Người nào nhận danh phận mới “con của Đức Chúa Trời” phải là những người “ tin Đức Chúa Jesus” . Không tin Chúa Jesus, không cách nào bước vào gia đình của Chúa để trở thành một phần tử của Gia đình này.

LỜI HỨA #3: MỘT MỐI TƯƠNG GIAO MỚI

Vả, anh em thảy đều chịu phép báp tem trong Đấng Christ, đều mặc lấy Đấng Christ vậy.” (Ga-la-ti 3:27).

Đây là một lời hứa quan trọng mà tôi muốn nhấn mạnh trong bài chia sẻ hôm này nhân dịp chúng ta có lễ Báp-têm.

Kết quả của Báp tem là trong Hội Thánh không còn sự khác biệt giữa các tín hữu. Tất cả để trở thành con dân của Đức Chúa Trời.   Khi chúng ta đến với Chúa Jesus, chúng ta bước vào một tương giao mới thay đổi tất cả cuộc sống của chúng ta. Với phép báp tem, chúng ta được mặc chiếc áo Đấng Christ. 

Mặc lấy Đấng Christ có nghĩa là gì ?

Hãy đọc Sáng thế ký đoạn 3. Xin mời cùng trở về thời kỳ vườn Eden. 

Trước khi Adam và Eva chưa phạm tội, họ không cần áo quần.

Sau khi phạm tội họ cũng chưa có áo quần.

Lúc đó họ trốn trong những lùm cây, bụi cỏ. Họ lấy lá cây che thân thể lõa lồ của họ. Họ mong muốn có cái gì đó che thân thể của họ. Họ biết hậu quả của lỗi lầm mà họ vừa phạm. Ðức Chúa Trời đã cảnh cáo họ: “ Các ngươi không được ăn trái của cây trồng giữa vườn, cũng không được đụng đến nữa kẻo các ngươi sẽ chết ”. Sáng 3:3 

Không ai biết trái cây bị cấm ăn đẹp hay không, hấp dẫn hay không. Nhưng một khi bị cấm ăn, trái cây đó tự nó có sự hấp dẫn đặc biệt. Và  ông bà Ađam Êva đã không thể từ chối sự hấp dẫn đó. Trái mà họ không được ăn trở thành một cái nắm tay của cánh cửa. Khi họ đụng vào , cửa sẽ mở ra và đưa họ vào một giai đoạn khác với những hậu quả không giống như ước mơ của họ. Một trong những hậu quả đó là sự xấu hổ.

Trước khi ăn trái cấm , họ không có sự xấu hổ về thân thể trần truồng, lõa lồ của mình. Bây giờ họ xấu hổ khi thấy mình lõa lồ và không có cái gì để che đậy. Họ muốn che đậy, họ không muốn Ðức Chúa Trời nhìn thấy. Các bụi cây, lùm cây mà họ đang ẩn nấp, che giấu có che đậy cặp mắt của Ðức Chúa Trời hay không? Lá cây có che chở thân thể trần truồng của họ không ? Vì chúng ta là khán giả nên chúng ta thấy rõ Adam và Eva không thể che giấu bất cứ điều gì dước cặp mắt của Ðức Chúa Trời. Nếu chúng ta là người trong cuộc, là người vấp phạm, chúng ta vẫn đóng lại vai tuồng che đậy khờ khạo của Adam và Eva.

Ðức Chúa Trời đã xử sự như thế nào ? Ngài xét xử làm sao? Theo luật của Ngài, nói một cách công bình, tội lỗi này sẽ bị kết án tử hình! Ðức Chúa Trời là công bình ! 

Mặt khác, chúng ta có đặt ra câu hỏi : Ðức Chúa Trời có yêu thương họ không? Adam và Eva có phải là con của Ngài không? Ân điển của Ðức Chúa Trời có khi nào vượt lên trên sự công bình của pháp luật hay không? Có cách nào, có điều kiện nào để sự công bình và tình yêu thương sống chung với nhau hay không? 

Thưa quý vị, theo Sáng thế ký 3:21 thì cả hai điều : công bình và tình thương có thể sống chung với nhau được. Ðây là câu kinh văn mà chúng ta có thể cho là một giảng luận đầu tiên đối với loài người . Câu này không được giảng bởi một Mục sư mà bởi chính Ðức Chúa Trời. Câu này không được giảng bằng lời nói nhưng bằng dấu hiệu, bằng hành động. Quý vị có muốn biết phản ứng của Ðức Chúa Trời như thế nào khi loài người phạm tội không? Xin hãy đọc câu Sáng thế Ký 3:21. 

Ðức Chúa Trời lấy da thú kết thành áo dài cho Adam và vợ ông và mặc cho họ”.

(Tôi rất tiếc Bản dịch mới không diễn tả được ý nghĩa sâu sắc của nó vì không nhấn mạnh được hai hành động riêng rẽ mà Ðức Chúa Trời đích thân làm là may mặc áo dài cho họ bằng cách dịch ngắn gọn là: Ðức Chúa Trời lấy da thú làm áo mặc cho họ

Thật là lý thú khi hiểu được sự dạy dỗ sâu sắc của câu kinh văn này
Thật vui mừng khi nắm được ý nghĩa Thần học trong câu kinh văn này.
Qua câu này, tôi phân tách ra ba hoạt cảnh như sau: 

Cảnh 1: Ðức Chúa Trời giết một con thú. Ðây là lần đầu tiên trong lịch sử của trái đất, đất đã bị nhuộm máu. Máu vô tội. Con thú bị giết không vì tội lỗi của nó. Nó là một con thú vô tội. Ðấng Tạo Hóa đã tạo ra nó và chắc chắn không hề có ý muốn là để phải giết nó để nó phải chết. 

Adam và Eva đã phạm tội và đáng lẽ phải chết nhưng họ được sống. Con thú được tạo ra để sống nhưng phải chết. Cảnh 1 này nói lên ý nghĩa máu vô tội bị đổ ra vì tội lỗi của loài người. Ý nghĩa của lễ chuộc tội với huyết của những con vật không tì vết trong thời Cựu Ước và ý nghĩa huyết của Jesus vô tội đổ ra một lần để cứu nhân loại trong thời Tân Ước nằm trong cảnh 1 này. 

Cảnh 2: Da con thú được may thành áo . Ðấng đã tạo ra vũ trụ với muôn triệu tinh tú đã trở thành người thợ may 

Cảnh 3: Thợ may đó đích thân mặc áo cho Adam và Eva

Sau khi phạm tội , hai vợ chồng Adam bị yêu cầu ra khỏi vườn Eden. Trên đường bước đi ra, Ðức Chúa Trời bảo họ dừng lại . Ngài lắc đầu nói với họ rằng: “ Những lá cây này không thể dùng để che chở thân thể lõa lồ của hai người được” rồi Ngài đưa cho họ áo dài mà Ngài đã làm. Ngài không ném những áo đó dưới đất rồi biểu họ tự mặc lấy. Ngược lại đích thân Ðức Chúa Trời mặc áo cho họ. “ Adam, mặc cái áo này vào để ta xem nó có vừa với người không? ” Lời nói êm ái như người mẹ nói với con mình trong dịp Tết bà may áo mới cho con. Nó êm ái như lời của người cha nói với con mình khi ông choàng cái áo Jacket mới mua cho đứa con vào ngày đầu tiên đến trường. Nó êm ái như lời của vị bác sĩ trẻ tuổi choàng cái áo hoa hồng trên thân mình cô gái run rẩy vì sợ sệt cho tương lai của mình khi bị đưa vào phòng giải phẩu. Dù Adam và Eva phạm tôi, Ðức Chúa Trời vẫn yêu thương và che chở họ. Ngài bảo vệ họ. “ Tình yêu dung thứ mọi sự ” 

Ngài có hành động như vậy đối với chúng ta không?

Hay là Ngài chỉ hành động một lần cho Adam và Eva mà thôi?

Chúng ta đã nhiều lần ăn những trái mà Ðức Chúa Trời cấm ăn. Hãy kiểm điểm lại để thấy những lần vấp phạm của mình. Chúng ta nhiều lần nói lên những lời không nên nói. Chúng ta cũng lắm lần đến những nơi không nên đến. Có những trái không nên đụng đến nhưng chúng ta đã đụng. Khi chúng ta làm những điều đó, cánh cửa mở ra, xấu hổ tràn vào trong tâm hồn chúng ta và chúng ta chạy trốn.

Nếu ngày xưa Adam lấy lá cây để che đậy, thì bây giờ chúng ta dùng lời ngụy biện, dối trá  để che đậy. Chúng ta che đậy bằng những hành động tốt lành khác nhưng sau một gió lốc, sự lõa lồ của thân thể hiện ra – sự thật về tội lỗi bị lộ ra trần truồng – Sự thất bại về những cố gắng của con người hiện ra như thân thể của Adam và Eva. 

Ðức Chúa Trời đối xử chúng ta như thế nào ? Ngài đã hành động như Ngài đã làm đối với tổ tiên của loài người. Ngài dùng máu vô tội. Ngài tặng cho nhân loại CON duy nhất của Ngài và sự hi sinh của người con đó trên đồi Gô gô tha năm ấy. Ngài đích thân kết thành áo – lần này không phải áo bằng da thú nữa – nhưng Ngài kết chiếc áo của công bình. Ngài không ném dưới đất và biểu chúng ta tự mặc lấy. Chính Ngài mặc áo công bình đó cho chúng ta . “Anh em đều chịu báp têm trong Ðấng Christ đều mặc lấy Ðấng Christ vậy ” Galati 3:27 

Cái áo là công việc Ngài làm. Không phải chúng ta làm. 
Quý vị còn nhớ cảnh thụ động hoàn toàn của Adam và Eva trong hoạt cảnh ba màn nói trên không? Hai người không làm gì cả. Họ hoàn toàn đứng yên. Họ không mở miệng yêu cầu sự hy sinh. Họ không hề nghĩ đến sự hy sinh. Họ không nghĩ đến mặc áo, họ không tự mặc áo. Họ thụ động, họ đứng yên. 

Chúng ta cũng vậy. “ Nhờ ân điển , bởi đức tin mà anh em được cứu. Ðiều đó không đến bởi anh em mà là sự ban cho của Ðức Chúa Trời” Ê-phê-sô 2:8 


Chúng ta trốn. Ngài đi tìm. 
Chúng ta mang tội lỗi. Ngài mang sự hi sinh. 
Chúng ta che giấu bằng lá cây. Ngài kết áo bằng sự công bình. 

Chúng ta không làm gì cả chỉ đón nhận ân điển cứu chuộc như Êsai đã một lần ca hát : “ Tôi vui mừng trong Ðức Gia vê, linh hồn tôi mừng rỡ trong Ðức Chúa Trời vì Ngài đã mặc áo cứu rỗi cho tôi, khoác áo choàng công bình cho tôi ” Ê sai 61:10 

Tất cả những cái xấu xa củ phải bước ra khỏi cửa khi Chúa Jesus bước vào lòng anh chị em.

Làm sao để người ta nhìn thấy một Cơ đốc nhân mặc chiếc áo với những đặc tính của Chúa Jesus ? Khi họ nhìn chúng ta, họ nhìn thấy Chúa Jesus. Nếu họ biết chúng ta trước khi chúng ta trở thành Cơ đốc nhân thì chắc chắn họ sẽ hỏi: Sao anh thay đổi như vậy? Điều gì xảy ra cho anh? Và chúng ta trả lời: “ bây giờ tôi là một người mới. Chúa Jesus thay đổi con người của tôi.  Ngài mặc cho tôi chiếc áo mới. chiếc áo công bình!

LỜI HỨA #4: MỘT TƯ THẾ MỚI

Tại đây không còn chia ra người Giu-đa hoặc người Gờ-réc; không còn người tôi mọi hoặc người tự chủ; không còn đàn ông hoặc đàn bà; vì trong Đức Chúa Jêsus Christ, anh em thảy đều làm một.” (Ga-la-ti 3:28).

Đây là một lời hứa thật lạ lùng cho các con cái của Đức Chúa Trời. Trong Chúa Cứu Thế, tất cả mọi hàng rào ngăn cách đều bị dẹp bỏ. Chương trình cứu chuộc của Ngài được áp dụng cho toàn thể nhân loại và khi áp dụng chương trình này, những người được cứu chuộc sẽ không còn phân biệt  màu da, quôc tịch của mình.

  • Dưới chân cây thập tự, mọi khác biệt, chia cách đều đã được san bằng.
  • Trong thân thể của Chúa Jesus , các bộ phận sẽ không còn khác biệt về sắc dân, màu da.

Về phương diện xã hội cũng vậy. Giàu có hay nghèo hèn đều nắm tay nhau bước vào gia đình của Chúa. Hồi thế kỷ thứ nhất điều này là một sự lạ lùng lớn. Hội Thánh Chúa có một nô lệ làm trưởng lão và ông ta lãnh đạo thuộc linh người chủ của mình là tín đồ của Hội Thánh.  Tất cả cùng được cứu không vì đồng tiền của mình, không vì trí thức của mình mà bằng ân điển của Đức Chúa Trời qua sự tin nhận Chúa Jesus làm Cứu Chúa của mình.

Trong chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời, nam nữ, đàn ông đàn bà đều được ơn như nhau.  Trước mắt của Ngài người đàn bà nô lệ ngoại bang cũng giống như người đàn ông Do Thái tự do. Tất cả đều như nhau trong Chúa Cứu Thế.

LỜI HỨA  #5: MỘT TƯƠNG LAI MỚI

Lại nếu anh em thuộc về Đấng Christ, thì anh em là dòng dõi của Áp-ra-ham, tức là kẻ kế tự theo lời hứa.” (Ga-la-ti 3:29).

Khi nhắc đến “là dòng dõi của Áp-ra-ham” Phao lô cố ý nói rằng sẽ thừa hưởng lời hứa của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham trong Sáng thế ký 12. Nguyên thủy, lời hứa đó dành cho dân Do Thái nhưng khi chúng ta sống trong Chúa Cứu Thế thì những lời hứa đó được mở rộng cho tất cả những người có đức tin trong Chúa .  Giê-rê-mi 31:31-34 giải thích những lời hứa đó gồm có “ Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân ta. Ta sẽ tha sự gian ác chúng nó, và chẳng nhớ tội chúng nó nữa”.

Khi nhắc đến Áp-ra-ham, Phao lô muốn nhắc lại sự ưu thế của ân điển so với luật pháp. Khi Áp-ra-ham bước đi bằng đức tin mà rời quê hương  trong khi chưa biết  đi đâu thì Đức Chúa Trời đã ban lời hứa vĩ đại cho ông.  Như vậy lời hứa đó dựa trên đức tin của Áp-ra-ham chớ không dưa vào việc tuân theo luật pháp vì lúc đó chưa có luật pháp.

Một người kế tự là một nhân vật theo pháp lý làm thành viên của gia đình. Nếu chúng ta là người thừa kế, chúng ta có quyển hưởng gia tài, tài sản của cải của người chủ gia đình. Từ khi chúng ta là phần tử trong gia đình của Đức Chúa Trời, chúng ta có quyển trên tất cả  những gì Đức Chúa Trời hứa.cho con cái của Ngài.

Cách nay độ một tháng, một tờ báo viết về thái tử William, con trai lớn của Hoàng tử Charles của Anh quốc. Tờ báo cho biết Thái tử sẽ là người thừa kết ngôi vị làm vua của quốc gia này khi Nữ Hoàng Elizabeth qua đời hay thoái vị.  Thái tử William đẹp trai nên là giấc mơ của biết thiếu nữ trên thế giới. Các cô nhắm vào Thái tử William vì cậu ta nắm vé tàu đi vào sự giàu sang, phú quý, danh vọng. Nhưng một thanh niên Cơ đốc như Tiểu Bảo, như Nguyên, Đức, Nghĩa , Tướng có những thứ vĩ đại hơn. Bởi vì chúng ta biết, trong danh của Chúa Jesus chúng ta có cuộc sống của một người công bình, tự do, một cuộc đời phong phú, bình an, vui mừng, quyền năng khi còn sống trên thế gian và sau khi qua đời, chúng ta sống trên thiên đàng đời đời. Những thứ đó, chưa chắc Thái tử William đã có nhưng các bạn đã có.

Thế giới này không có câu trả lời về nan đề của tội lỗi và sự chết. Nhưng trong Chúa, chúng ta được giải phóng khỏi hai nan đề đó.  Khi chúng ta là con của Đức Chúa Trời, tội lỗi được bôi xoá, tử thần  nhường chỗ cho sự hiện diện của Ngài và đó là điểm bắt đầu của một cuộc đời mới.

ĐIỀU TỐT NHẤT CHƯA ĐẾN

 Dường ấy, ngươi không phải là tôi mọi nữa, bèn là con; và nếu ngươi là con, thì cũng là kẻ kế tự bởi ơn của Đức Chúa Trời.” (Ga-la-ti 4:7).

Câu kinh văn này tóm lược bằng cách nhắc nhở chúng ta rằng dù chúng ta trước đây là như thế nào bây giờ chúng ta là con của Đức Chúa Trời và khi là con thì chúng ta là người thừa kế tất cả những gì Đức chúa Trời có. Nếu Ngài làm chủ một lâu đài với một ngàn ngọn đồi, chúng ta sẽ làm chủ tài sản đó.

Đó là nói ví dụ cho dễ hiểu vì có những thứ mắt chúng ta không thấy, tai không nghe, đầu óc không nghĩ tới nhưng tôi biết qua những câu kinh văn này ám chỉ một tương lai thật tuyệt vời vì Đức chúa Trời đã chuẩn bị cho chúng ta một cuộc sống tuyệt vời bởi tình yêu của Ngài đối với con cái của Ngài . 

Thí dụ: Ông chủ hỏi một tín đồ của Chúa có muốn làm việc ngày Chúa nhật không ? Cô ta lễ phép từ chối. Người chủ hứa sẽ trả gấp đôi nếu cho đồng ý làm việc ngày Chúa nhật. Cô ta cám ơn và từ chối đề nghị này. Cô cho biết thêm rằng cô không muốn đi làm ngày Chúa Nhật. Khi ông hỏi lý do tại sao , cô trả lời cô là một Cơ đốc nhân nên có muốn dành ngày đó để thờ phượng Chúa và thông công với các con dân của Chúa. Ông chủ suy nghĩ vài phút rồi hỏi : “Cô được trả bao nhiêu để làm một Cơ đốc nhân”. Cô ấy đáp: “Chúa không trả cho tôi nhiều lắm đâu”  cô mĩm cười rồi nói tiếp : “nhưng Chúa có chương trình hưu trí cho tôi ngoài sức tưởng tượng của ông rồi”.

Từ khi trở thành công dân của Chúa, qua đoạn kinh văn ngắn ngủi này, chúng ta đã có 5 lời hứa thật vô giá:

1. Một tự do mới: Chúng ta được xưng là công bình và không còn đặt dưới luật pháp nữa.

2. Một danh phận mới:  Làm con của Đức Chúa Trời 

3. Một tương giao mới: Chúng ta được mặc chiếc áo công bình của Chúa Jesus  đê hoà thuận với Đức Chúa Trời

4. Một tư thế mới: tất cả chúng ta trong Chúa Cứu Thế không phân biệt chủng tộc, màu do, địa vị xã hội, nam nữ … 

5. Một lời hứa mới : chúng ta là người thừa kế tất cả những lời hứa của Đức Chúa Trời đã hứa cho con của Ngài.

Tất cả những lời hứa này đều được dành cho tất cả Cơ đốc nhân. Nó không lệ thuộc vào việc làm của anh em. Nó chi lệ thuộc vào những ai tin Chúa Jesus. .

Tôi thấy một người Hoa kỳ mặc chiếc áo T-shirt có in chữ JESUS thật lớn chiếm cả ngực. Dưới đó có hàng chữ nhỏ: “ Và đó là câu trả lời sau cùng của tôi” . Hãy để Chúa Jesus là câu trả lời sau cùng cho những ai còn chần chờ và tất cả những lời hứa trên sẽ thuộc về quý vị lập tức. Khi còn sống ở thế gian, những lời hứa đó sẽ gắng liền với đời sống của quý vị. Khi qua đời, quý vị sẽ nhận điều tốt lành nhất : về sống phước hạnh trên thiên đàng. A men ? 

KẾT LUẬN

Năm 1997, một lá thư của một người cha gởi cho đưa con gái của mình kèm với món quà có nội dung đã được bà Ann Lander đăng vào báo và được hàng triệu người cắt đóng khung để làm kỷ niệm. Bức thư đó như sau: 

“ Con thân yêu của cha!
“Ba có một món quà tặng con trong Giáng sinh năm nay. Món quà này sẽ làm cho con ấm lòng khi đêm xuống và hào quang sẽ tiếp tục sáng chói dù trời ngoài kia đã hoàng hôn. Nó sẽ mang cho con những nụ cười vui mừng vào những ngày cuối tuần.

“Nhưng làm sao cha gởi cho con món quà đó.

Có tiệm nào bán những nụ cười.

Có nơi nào cng cấp những nụ hôn nồng ấm.

“Không. Những điều quý báu đó không thể bán và mua được. Nhưng những điều đó có thể cho không, biếu không. Và hôm nay ba muốn tặng con điều đó. 

“Món quà của ba là một lời hứa của ba.
“Một lời hứa là ba sẽ luôn luôn yêu thương mẹ con.
“ Với sự giúp đỡ của Chúa, ba sẽ không bao giờ rời khỏi mẹ con. Con sẽ không bao giờ về nhà để thấy ba đã ra đi . Con sẽ không bao giờ thức giấc nửa đêm để phát hiện ba đã rời khỏi nhà. Con sẽ luôn luôn có đủ cha và mẹ. Ba sẽ luôn luôn yêu thương mẹ con dù ba chưa bao giờ nói ra.

“Ðó là lời hứa của ba và là món quà cho con.
Cha yêu thương của con”. 

Tôi nghĩ mọi người cảm động với lời hứa của người cha qua lá thư này.

Chúng ta có cảm động khi người Cha Thiên thương hứa với chúng ta nhiều gấp bội lần hơn ?

Ngài không những hứa ở với chúng ta “ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế

 mà Ngài còn hứa:

  • một tự do mới, một danh phận mới, một tương giao mới, một địa vị mới và Ngài còn hứa rằng chúng ta sẽ là người thừa kế gia tài của Đức Chúa Trời

Tại sao chúng ta dửng dưng , không cảm động trước lời hứa thật vĩ đại của người Cha thiên thượng?

Chúng ta quả thật đã đối xử không công bình với Đức Chúa Trời.

Hôm nay, tôi đề nghị chúng ta đứng lên cùng dâng lời cảm tạ về những lời hứa vô giá của Chúa dành cho chúng ta. Hãy làm điều này thường xuyên vì Ngài luôn luôn giữ lời Ngài hứa dù chúng ta có lúc không trọn vẹn đặt niềm tin nơi Ngài.  

Hởi quý anh chị em, hãy mau mau cầu xin Chúa tha thứ chúng ta và mau cảm tạ về những lời hứa chắc chắn của Ngài.

Tôi kêu gọi hay van nài một vị nào đó lớn tiếng dâng lời cảm tạ này.