Ân điển ở đâu?

Đọc 2 Sa-mu-ên 9: 1-13


Câu gốc : “Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. .” Ê-phê-sô 2:8

Ân điển là căn bản của Cơ-đốc giáo.

Khi nói đến luật pháp, chúng ta nghĩ ngay đến sự công bình.

Khi nói đến hôn nhân, chúng ta nghĩ đến tình yêu thương.

Khi nói đến Cơ-đốc giáo, chúng ta nghĩ ngay đến ân điển.

Hồi tôi còn nhỏ, Hội-thánh Cần thơ tổ chức tiệc thánh mỗi Chúa nhật đầu tháng. Chúa nhật hôm đó có hai lần dâng hiến. Một lần như thường lệ và lần thứ hai là dâng hiến đặc biệt xảy ra trước lễ tiệc thánh để dành cho chi phí Giáng sinh. Cha mẹ tôi đều góp phần trong cả hai lần dâng hiến đó. Mẹ tôi thường cho tôi một đồng để góp trong kỳ dâng hiến thường lệ mà thôi. Nhưng hôm đó  mẹ cho tôi hai đồng để dâng cho cả hai lần dâng hiến. Tôi sung sướng bỏ 1 đồng vào lần dâng hiến đặc biệt thứ hai và khi dĩa bánh tiệc thánh đưa cho tôi, tôi định lấy một cái bánh nhưng mẹ tôi cản tôi “Không được, con chưa làm lễ báp têm”. Tôi vội cải lại “nhưng con vừa bỏ tiền vào rổ dâng hiến mà”. Phản ứng của một đứa trẻ cũng là thái độ của nhiều người lớn ngày nay. Người ta nghĩ rằng khi chúng ta dâng hiến, hay làm việc gì cho Hội-thánh thì có quyền nhận lãnh ân điển.

Giáo lý ân điển phân biệt Cơ-đốc giáo với tất cả các tôn giáo khác của loài người. Do đó chúng ta cần phải quán triệt khái niệm về giáo lý Ân Điển.

Tôi dùng một câu chuyện trong trong sách II Sa-mu-ên 9 để giải thích ý niệm về giáo lý này.

Vào năm 1010 BC, tin tức lan truyền khắp nước: “vua Sau-lơ và thái tử Giô-na-than cùng 2 hoàng tử đã tử trận. Đa-vít lên ngôi vua”

Trong nhà của thái tử Giô-na-than không khí đau buồn và còn lo sợ. Vị vua mới sớm muộn gì cũng tìm cách tiêu diệt con cháu, dòng dõi vua trước để tránh hậu hoạn. Đang ngồi trên sàn nhà, bé Mê-phi-bô-sết bị tật hai chân được bà vú vội vã bồng chạy lánh nạn. Mê-phi-bô-sết là con của hoàng tử Giô-na-than và cháu nội của vua Sau-lơ. Nó không ngờ có ngày nó phải chạy trốn, sống trơ trọi ngoài hoàng cung thiếu thốn cực khổ, đói khát, lạnh lẽo và lo sợ bị giết như vậy.


Bảy năm sau, Đa-vít vừa chiến thắng và đánh tan kẻ thù là dân Phi-li-tin, Mô-áp cũng như dân Sy-ri và Ê-đôm. Ngồi trong hoàng cung, ông nhớ chuyện quá khứ từ kẻ chăn chiên thấp hèn mà bây giờ là vua của một nước – không còn nghi ngờ về ân điển mà Đức Chúa Trời ban cho cuộc đời của ông. Và tôi tin rằng vì nhận ra ân điển của Đức Chúa Trời nên ông mở miệng thốt ra lời: “Có người nào của nhà Sau-lơ còn sống chăng? Ta muốn vì cớ Giô-na-than mà làm ơn cho người”. Câu 1

Trong câu chuyện của II Sa-mu-ên 9 này, Đa-vít là người nhận ân điển của Đức Chúa Trời, Mê-phi-bô-sết là người nhận ân huệ của Đa-vít. Họ trong câu chuyện này chính là chúng ta. Câu chuyện của cậu bé Mê-phi-bô-sết sẽ dạy chúng ta về ân điển của Chúa.

Trước hết, hãy theo gương của Đa-vít, ôn lại đời của mình, từ những ngày tháng lo sợ, cơ cực, lầm than, đói rách, lang thang phố chợ ở Việt Nam như thế nào mà bây giờ được sống tại xứ tự do, đầy đủ , bình an với nhà cửa, xe cộ, ăn uống đầy đủ dư dật, con cái ngoan. Thay vì như Đa-vít, biết nao người lên mặt,  học làm sang, lên mặt dạy đời, phê phán, chỉ trích, trách cứ  mà không bao giờ thốt ra một lời như Đa-vít: “ Tôi muốn lấy ơn của Đức Chúa Trời mà đãi lại người” Câu 3

Đãi lại anh em mình bằng cách nào? Nhận lại cả tài sản của ông cha nó.  Mê-phi-bô-sết tìm thấy ân điển hay là ân huệ từ vua Đa-vít

Vì không dư tiền bạc nhà cửa, tài sản hay quyền hành nên chúng ta chỉ có thể đãi anh chị em mình bằng cách phục vụ, tiếp tay, chăm sóc, chào hỏi, đưa đón. Liệu quý vị có sẵn sàng làm những việc nhỏ mọn đó hay không?

Phân tích thêm, qua câu chuyện này, chúng ta tìm ra những bài học quý báu.

I. ÂN ĐIỂN TÌM CHÚNG TA.

– Khi vua Đa-vít hỏi “Chẳng còn có người nào về nhà Sau-lơ sao? Ta muốn lấy ơn của Đức Chúa Trời mà đãi người”, chúng ta thấy Ân điển bắt đầu từ Đa vít, từ hoàng cung và tìm kiếm Mê-phi-bô-sết cũng từ hoàng cung trong lúc cậu ta đang sống cơ cực.


– Như trường hợp của Mê-phi-bô-sết, Chúa đã đi tìm chúng ta để ban ân điển cho chúng ta. Ân điển ban cho từ thiên đàng và như Mê-phi-bô-sết, chúng ta đang mang tội lỗi, không xứng đáng nhận nhưng Đức Chúa Trời vẫn yêu thương và tìm kiếm chúng ta.

  1. ÂN ĐIỂN BAN CHO VÌ CHÚA MUỐN NHƯ VẬY.  

Lúc đó, cả nước không còn ai nhớ đến cậu bé tật nguyền này. Cả gia đình cũng không còn ai để nhớ đến nó. Vả lại, không có lý do gì để nhớ đến nó.

Nó là một đứa bé không ra gì. Nó nhận ân huệ của Đa-vít hoàn toàn do Đa-vít chủ động, tìm đến nó và ban cho nó.

Đức Chúa Trời ban ân điển cho chúng ta chỉ vì đó là ý muốn của Ngài, bản chất của Ngài. Hoàn toàn không vì một cái gì hay điều gì từ chúng ta làm hay chúng ta có để mà Chúa ban ân điển cho chúng ta.  

  • ÂN ĐIỂN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI ĐEO ĐUỔI THEO CHÚNG TA

Đa-vit truyền lệnh tìm Mê-phi-bô-sết để ban ơn cho nó.

Bất cứ chúng ta ở đâu, ân điển của Ngài đều có thể đến với chúng ta.  

  • Hỏi đứa con hoang đàng, ân điển tìm nó trong lúc nó cho heo ăn và mang nó về nhà cha.
  • Hỏi Giô-sép, ân điển tìm thấy ông ta đang ở dưới giếng mà các anh của ông bỏ xuống để mang ông qua xứ Ai cập thăng chức mà Pha-ra-ôn tuyên bố: “hết thảy dân sự của trẩm sẽ vâng theo lời ngưòi”.
  • Hỏi ngưòi đàn bà Sa-ma-ri, ân điển tìm bà tại giếng nước giữa trưa.

Nếu ngày trước Đa-vit truyền lệnh tìm Mê-phi-bô-sết, thì ngày hôm nay ân điển có thể tìm chúng ta dù chúng ta ở đâu.

  • ÂN ĐIỂM CỦA CHUÁ CƯU MANG CHÚNG TA.

MÊ-PHI-BÔ-SẾP tật nguyền không thể tự mình đến hầu vua Đa-vit để nhận ân huệ – vua Đa-vít sai người mang nó về hoàng cung.

Thang máy trong một cao ốc đưa người khách đi lên đi xuống mà không phải trả tiền, miễn là chúng ta tin nó bằng cách bước vào và bấm nút. Đứa con hoang đàng tin vào tình yêu và giàu có của cha mình nhưng nó phải quay về bằng chính đôi chân của nó. Không khí ở chung quanh ta, nếu muốn sống chỉ cần hít vào và không phải trả tiền cho ai cả.

Ân điển của Chúa ban cho chúng ta còn hơn thế nữa. Chúng ta chẳng cần phải đi bằng chân mình, chẳng cần phải hít vào, chỉ cần dang tay nhận lãnh mà ôm lấy ân điển của Ngài.

Ân điển hoàn toàn không tùy vào tài năng của chúng ta.  Ân điển của Đức Chúa Trời ban cho chúng ta tùy theo khả năng của Ngài mà Ngài là Đấng toàn năng.

II. ÂN ĐIỂN GIÚP CHÚNG TA KHÁM PHÁ MÌNH LÀ AI.

Cậu bé Mê-phi-bô-sết sanh ra là cháu nội của vua Sau-lơ. Nó thuộc hoàng tộc. Nhưng thời gian trôi qua, thế cuộc đổi thay, địa vị hoàng gia của nó không còn khi Sau-lơ chết, khi Đa-vít lên ngôi .

Nhưng Đa-vít nhìn xuống và ban cho nó địa vị đã đánh mất tại cung đình.

Chúng ta, được Chúa Trời nắn nên hình người nhưng tội lỗi của tổ phụ, và tội lỗi của chính mình đã tống chúng ta ra khỏi vương quốc của Đức Chúa Trời. Bây giờ Chúa nhìn xuống và ban cho chúng ta một địa vị đã mất

  1. MỘT ĐỊA VỊ THÂN TÌNH

Mê-phi-bô-sết được trao lại một vị thế hoàng tộc. Câu 11: “ … Mê-phi-bô-sết ăn chung bàn Đa-vít như một con trai của vua vậy. ”.

Ân điển của Đức Chúa Trời làm cho chúng ta thành con trai hay con gái của Đức Chúa Trời.

Địa vị của chúng ta là ăn chung bàn với Ngài, ăn cùng món với Ngài.

  • MỘT ĐỊA VỊ ĐỜI ĐỜI


Đa-vít ban vị thế cho Mê-phi-bô-sết một cách lâu dài, không phải trong lúc ngẫu hứng, bốc đồng. Vua truyền trong câu 7 “và ngươi sẽ ăn chung bàn ta luôn luôn

Mê-phi-bô-sết không còn phải lo lắng khi nào Đa-vit còn là vua. Chúng ta được sự ban cho của Đức Chúa Trời đời đời vì Ngài là Đấng toàn tại đời đời.

III. GIÁ CỦA ÂN ĐIỂN.

Câu 7 viết “ta muốn làm ơn cho ngươi vì cớ Giô-na-than, cha ngươi”. Mê-phi-bô-sết nhận ân huệ của Đa-vít không phải vì công lao hay tài năng của nó mà chính vì nó là con của cha nó, Giô-na-than đã làm.

Chúng ta nhận ân điển của Đức Chúa Trời không vì việc chúng ta làm, không vì tài năng của chúng ta mà vì công việc mà Chúa Jesus đã làm.

Chữ ân điển tiếng Anh là GRACE là chữ viết tắt của:

God’s                            Chúa Trời

Reward                        phần thưởng

At                                  do

Christ’s                        Chúa Cứu Thế

Expense                       Giá phải trả

Ân điển là phần thưởng của Đức Chúa Trời ban cho chúng ta do những gía mà Chúa Jesus đã trả qua cái chết của Ngài.

LÀM SAO CHÚNG TA NHẬN ÂN ĐIỂN QUÁ DỄ DÀNG?

Mục sư đứng trước Hội thánh tuyên bố: “Tôi có một đồng và sẽ biếu tặng cho người nào bước lên đây trước nhất.  Ðây là một đồng biếu không. Không điều kiện, cũng không đòi hỏi gì cả. Xin mời ai thấy mình cần một đồng này mời bước lên đây. Ðây là một món quà của tôi tặng quý vị”.

Tôi có thể đoán thái độ đáp ứng của quý vị
Trước tiên là một sự im lặng trong giây lát 
Mọi người suy nghĩ: “Ông Mục sư này đang chơi trò gì đây? Ông đang đố mẹo gì ?

– Một người nhấc chân nhưng không phải để bước lên mà để thay đổi thế ngồi 
– Một bà vợ thúc cùi chỏ vào ông chồng và ông ta lắc đầu. 
– Một thanh niên đứng lên nhưng chợt mắc cở, tự ái, danh dự của mình nên ngồi xuống.  
– Một em bé 5 tuổi bước ra khỏi hàng ghế, định bước lên nhưng bị bà mẹ ngăn cản lại.

Cuối cùng có một thiếu nữ bước lên và nói rằng: 
“Tôi muốn đồng bạc đó”. 
Mục sư trao cho cô ta một đồng và bắt đầu hỏi:
“ Tại sao quý vị không muốn lấy đồng bạc của tôi?”

  • Một vài người cho rằng đề nghị của Mục sư quá bất ngờ, làm họ bối rối không biết phải làm sao. 
  • Có người nghĩ rằng là “no pain, no gain”, không muốn đắc lợi vô căn. 
  • Người khác nghĩ đây là một trò đùa và không muốn trở thành trò đùa cho người khác. 
  • Người nghĩ rằng họ không cần có thêm 1 đồng trong khi trong túi họ đã có cả 50 đồng

“ Tại sao có người không nhận quà biếu không của Chúa Cứu Thế?
(Quà biếu không là: chỉ cần tin nhận Chúa Jêsus là Cứu Chúa của mình thì được cứu và nhận thêm mọi ân điển khác nữa)

Câu trả lời chắc cũng tương tự như vậy  

Một số bối rối vì bất ngờ hay vì không hiểu rõ ràng. 
Có người nghĩ rằng xin Chúa tha thứ tức là mình tự thú nhận là người có tội. Ðó là một điều mà ít ai muốn tự tố cáo mình
Người khác cho đó là một trò đùa hay một kế gì đó để gạt họ. Họ là người cẩn thận dè dặt
Cũng có người nghĩ rằng: Tôi không cần sự tha tội vì tôi thấy mình là một người tốt. Họ thấy họ khá hơn nhiều người khác.

Ðó là lý do tại sao ân điển lúc nào cũng dành cho mọi người nhưng chỉ ít người nhận ân điển của Chúa.

  • Nhiều người đã chọn ngồi yên một chỗ và chờ đợi. Trong khi đó chỉ có ít người đứng lên và tin nhận.
  • Người có óc thủ cựu thì cho rằng ân điển là điều quá mới mẻ nên phải dè dặt. Tuân theo luật pháp là điều tuy xưa củ nhưng chắc chắn và dễ hiểu hơn. 
  • Kẻ bi quan thì hoài nghi vì tại sao Ðức Chúa Trời ban ân điển cho loài người dễ dàng như vậy.

Chúng ta hãy nghe lại chuyện Áp-ra-ham và bà Sa-rai

Chúa hứa cho họ một đứa con

Tên Áp-ram có nghĩa là “cha cao quý”, Chúa đổi tên là Áp-ra-ham có nghĩa là “cha của nhiều dân tộc” nhưng vẫn chưa có con. Bốn mươi năm qua, họ vẫn chưa có con

Hãy tưởng tượng một cuộc đối thoại giữa Áp-ra-ham và một người lạ

–  Tên ông là gì?

–  Áp-ra-ham

–  Ồ,“Cha của nhiều dân tộc.Chắc ông có nhiều con lắm?

–  Không!

Ông nghe lời Chúa bỏ quê huơng mà đi nhưng không biết đi đâu và vẫn không có con
Ông sống trong cơn đói kém và vượt qua nhưng vẫn không con.
Ông gặp thiên sứ và vua Mên-chi se-đéc nhưng vẫn không con

Ông không dựa vào sự suy nghĩ, kiến thức của ông mà dựa vào ân điển của Đức Chúa Trời.

Thời gian trôi qua, họ không còn trẻ nữa, không còn sức lực nữa. Bây giờ ông đã 90 và bà Sa-rai 80 cũng không còn trẻ. Cả hai tóc đã bạc và thưa và vẫn không con. Nhưng cả hai đều vẫn hy vọng, vẫn nhớ đến lời hứa của Ðức Chúa Trời. Cả hai đều sống bằng tiền già Social Security đã hơn 25 năm và bằng lời hứa của Chúa từ thiên đàng.

Rồi một ngày, họ đã phải dùng Medicare cấp cho người già để trả tiền bảo sanh viện thay vì trả tiền nursing home. Sarai sinh ra Y-sác lúc bà đã 90 và ông đã100 tuổi.

Nếu bà Sa-rai cho rằng việc mang thai của bà là một phép lạ của Chúa thì việc Chúa gọi chúng ta là người công bình cũng một ý nghĩa như nhau.

Con người nhận ân điển của Chúa một cách nhưng không mà không đãi anh em mình trong tinh thần yêu thương như Chúa.

Một bước tệ hơn, nhận ân điển Chúa mà nói nghịch lại Chúa và lằm bằm với Chúa.

Dân số ký 21:5-9 Vậy, dân sự nói nghịch cùng Đức Chúa Trời và Môi-se mà rằng: Làm sao người khiến chúng tôi lên khỏi xứ Ê-díp-tô đặng chết trong đồng vắng? Vì đây không có bánh, cũng không có nước, và linh hồn chúng tôi đã ghê gớm thứ đồ ăn đạm bạc nầy. 6 Đức Giê-hô-va sai con rắn lửa đến trong dân sự, cắn dân đó đến đỗi người Y-sơ-ra-ên chết rất nhiều. 7 Dân sự bèn đến cùng Môi-se mà nói rằng: Chúng tôi có phạm tội, vì đã nói nghịch Đức Giê-hô-va và người. Hãy cầu xin Đức Giê-hô-va để Ngài khiến rắn lìa xa chúng tôi. Môi-se cầu khẩn cho dân sự. 8 Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy làm lấy một con rắn lửa, rồi treo nó trên một cây sào. Nếu ai bị cắn và nhìn nó, thì sẽ được sống. 9  Vậy, Môi-se làm một con rắn bằng đồng, rồi treo lên một cây sào; nếu người nào đã bị rắn cắn mà nhìn con rắn bằng đồng, thì được sống. 

Bắt đầu đoan 21 này, chúng ta biết vua A-rát hãm đánh Y-sơ-ra-ên và dân này hứa nguyện cùng Đức Chúa Trời rằng: “nếu Chúa phù hộ phó dân Ca-na-an này vào tay chúng tôi tất chúng tôi sẽ diệt các thành của nó”. Đức Chúa Trời nhận lời. Dân Y-sơ-ra-ên diệt hết dân đó và các thành của nó. Vậy mà, một thời gian ngắn sau đó, dân sự ngã lòng và bắt đầu nói nghịch lại Đức Chúa Trời.

Dân Y-sơ-ra-ên nhận quá nhiều ân điển của Đức Chúa Trời. Từ việc giải phóng khỏi ách nô lệ của Ai cập, mang qua biển đỏ, ban trụ mây trụ lửa để dẫn đường, ban nước, ban thức ăn chim cút và ma-na … nhưng họ quên hết những phước hạnh, ân điển mà họ không xứng đáng để có. 

Họ bị Đức Chúa Trời phạt đi lang thang trong sa mạc suốt 40 năm vì họ không có đức tin vào tình thương và quan phòng của Đức Chúa Trời.

Lần này, hậu quả của lời lằm bằm là “…Đức Giê-hô-va sai con rắn lửa đến trong dân sự, cắn dân đó đến đỗi người Y-sơ-ra-ên chết rất nhiều”. 

Dân chúng ăn năn, nhận ra tội phạm của mình. Họ tìm đến ông Môi-se mà rằng: “Chúng tôi có phạm tội, vì đã nói nghịch Đức Giê-hô-va và người. Hãy cầu xin Đức Giê-hô-va để Ngài khiến rắn lìa xa chúng tôi”

Môi-se cầu khẩn Chúa. Chúa nhận lời bảo Môi-se làm một con rắn bằng đồng treo lên cây sào. Nếu ai bị cắn và nhìn nó, thì sẽ được sống.

Điều lưu ý là Đức Chúa Trời không dẹp con rắn lửa độc hại kia. Điều này chứng tỏ dân sự vẫn tiếp tục phạm tội, và tiếp tục bị rắn cắn.

Con rắn đồng nhắc nhở chúng ta con rắn tại vườn E-den, nhớ đến nguyên nhân cội rễ của tội lỗi. Đó là lòng phản trắc của con người. Khi nhận quá nhiều ân điển cho không của Chúa, con người trở nên kiêu ngạo, tự đại quên hẳn lúc vừa tin nhận Chúa.

Điều lạ thứ hai là người bị rắn độc cắn chỉ cần nhìn vào con rắn bằng đồng thì không chết.

Có lẽ kỳ lạ lắm phải không ?

Tại sao Đức Chúa Trời không ban cho một loại thuốc tối tân như serum chích vào thì trị nọc rắn độc ? Tại sao Chúa không tạo ra một hình thức cầu kỳ, rắc rối, như thầy tể lễ phải đọc kinh đặc biệt, bày trên bàn thờ cúng hoa quả thịt dâng lên Ngài thì Ngài cứu cho?

Một giải pháp hết sức đơn giản nhưng hữu hiệu: Chỉ cần nhìn vào con rắn đồng thì được giải độc!

Nhìn con rắn đồng là hình ảnh của ân điển của Đức Chúa Trời trong thời Tân-Ước, trong thời đại của chúng ta

KẾT LUẬN

Đa-vít nhắc nhở chúng ta qua lời: “Ta muốn lấy ơn của Đức Chúa Trời mà đãi người ”(câu 3)

Tôi muốn thay đổi nguyên văn câu này thành: “Tôi muốn anh chi em lấy ơn của Đức Chúa Trời mà đãi lẫn nhau” và muốn áp dụng điều này trong Hội-thánh chúng ta.

Hãy đãi nhau bằng ân điển của Chúa đã ban cho mình. Không so đo, không lằm bằm, không cay đắng, không nhìn quanh vì ân điển Chúa ban cho vô tận.

Đừng để đến khi con rắn lửa xuất hiện thì quá trễ rồi.