36. Đừng Sống Vô Ơn

ĐỪNG SỐNG VÔ ƠN

Không phải mười người đều được sạch cả sao? Còn chín người kia ở đâu? Lu-ca 17:17
Lu-ca 7:36-49
Nói đến ơn nghĩa, người lớn tuổi đều nghĩ ngay đến câu “ THI ÂN MẠC NIỆM, THỌ ÂN MẠC VONG”, là “Ban ơn thì đừng nhớ còn nhận ơn thì chớ quên”.   Trong khi đó, Cơ đốc nhân đều nhớ đến câu chuyện 10 người phung được Chúa Jesus trị lành nhưng chỉ có một người cảm ơn Chúa. Câu hỏi của Jesus : “Còn 9 người kia đâu, chẳng phải tất cả đều đã được trị lành hay sao?
Tôi đã dùng câu chuyện này cho bài giảng luận của tôi hồi lễ Tạ ơn 2000 và tôi đã tưởng tưọng tôi nằm trong danh sách chín người phung kia và tôi quay xuống Hội chúng hỏi: Liệu có tên mình trong số chín người vô ơn đó hay không?
 NGHĨA CỬ CỦA ANH EDWARD SPENCER
Con người mau quên, nhất là dễ quên những lần mình mang ơn.THỌ ÂN MẠC VONG mà!
Vào mùa đông năm 1916, một chiếc tàu bị chìm ở biển hồ Michigan gần Evanston, anh Edward Spencer dầm mình dưới nước hồ rất lạnh để cứu vớt lần lược được 17 người. Vì quá cố gắng nên anh sau đó bị cảm lạnh, sưng phổi năm sau anh qua đời.(7 Feb 1917).  Dù được báo chí loan báo, không một ai trong 17 người được anh cứu sống, đến dự  đám tang của anh.
Tôi không nghĩ ra được một lý do nào để họ vắng mặt trong ngày tang lễ đó mà lương tâm họ vẫn để yên. Phải chăng con người thật khó mà nói một lời cám ơn ?
CON HEO BA CHÂN
Để thay đổi không khí, thầy giáo dẫn một số học trò thăm viếng một nông trại trong chương trình sinh hoạt ngoài trời . Họ được chủ nông trại dẫn thăm viếng quanh nông trại của ông. Thầy giáo sư thấy một con heo chỉ có ba chân nên hỏi

  1. Con heo kia lạ thật, sao nó chỉ có ba chân ?
  2. Ồ đó là con heo rất lạ lùng của tôi !
  3. Tại sao gọi là lạ lùng. Có phải vì nó ba chân ?
  4. Không phải đâu thầy giáo. Năm ngoái trong lúc cả nhà đang ngủ yên không ai biết căn nhà đang bị cháy. Con heo này thấy lửa nên nó kêu lớn tiếng khiến tôi thức dậy kịp thời gọi 911 nên mọi người sống sót mà căn nhà cũng tránh được cơn lửa thiêu rụi.
  5. Ồ lạ lùng thật.
  6. Nhưng chưa hết đâu. Cách nay độ 6 tháng, đứa con út của tôi bị rớt xuống cái ao cá sau nhà. Trong nhà chẳng ai thấy cả chỉ con heo này nó thấy. Nó chạy vào nhà kêu lớn tiếng làm mọi người chú ý rồi nó chạy vụt ra sau nhà đến gần ao cá. Chúng tôi chạy theo và thấy mặt nước có bong bóng nổi trên nên biết có người rơi xuống ao. Nhờ vậy mà chúng tôi cứu được đứa con út của tôi.
  7. Ồ thật là con heo lạ lùng. Nhưng hai câu chuyện này có dính líu gì đến việc nó mất hết một chân không ?
  8. Ồ thầy nghĩ coi. Nó cứu giúp chúng tôi như vậy nên chúng tôi còn có lòng dạ nào mà ăn thịt nó một lần nguyên con cho được. Do đó lần đầu, chúng tôi mới chỉ ăn một chân thôi.

Quý vị thấy đó. Con heo đã giúp gia đình này qua hai tai nạn chết người nhưng thật khó mà đền ơn đáp nghĩa.
HAI MẪU CHUYỆN LỊCH SỬ NGƯỜI PHÁP MAU QUÊN
Một, vào đầu thập niên 60s, trong cuộc họp với các nhà lãnh đạo Châu Âu để thỏa hiệp sống chung hòa bình với các nước CS Đông Âu. Tổng Thống Pháp Charles de Gaulle muốn lấy lòng CS nên đã đơn phương quyết định rút ra khỏi Liên Minh Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương ( NATO). De Gaule nói “Quân Đội Hoa Kỳ PHẢI RÚT RA KHỎI NƯỚC PHÁP CÀNG SỚM CÀNG TỐT”. Ngoại Trưởng Rusk nhìn thẳng vào mặt Tổng Thống De Gaulle từ tốn hỏi “Thưa Tổng Thống! lệnh này có bao gồm luôn cả các Quân Nhân Hoa Kỳ từng được chôn cất tại đây hay không?” (Ghi chú: lính Mỹ tử trận tại Pháp rất nhiều khi giúp Pháp chống Đức Quốc Xã). Im lặng bao phủ.
Hai, cụ già Người MỸ 84 tuổi , Robert Whiting tới Paris bằng phi cơ. Vì già cả chậm lụt, nên cụ phải mất thời gian lục tìm sổ thông hành.  Nhân viên di trú cự nự và hỏi cụ có biết phải chuẩn bị sẵn passport không. Cụ nói “ Hồi trước khi đến Pháp, tôi không cần phải xuất trình Sổ Thông Hành gì hết cả”. Nhân viên di trú nổi nóng cự “Chuyện vô lý, người Mỹ bao giờ cũng phải xuất trình Sổ Thông Hành khi tới Pháp”. Cụ Whiting đưa mắt nhìn nhân viên Di Trú thật lâu rồi nhẹ nhàng giải thích “Thật vậy sao! Trước đây khi tôi đổ bộ lên bãi biển OMAHA nước Pháp trong ngày D Day năm 1944 để giải phóng nước Pháp thoát khỏi sự thống trị của Đức Quốc Xã,  TÔI ĐÃ KHÔNG TÌM THẤY MỘT NGƯỜI PHÁP NÀO Ở ĐÓ ĐỂ MÀ TRÌNH SỔ THÔNG HÀNH CẢ”. Im lặng bao phủ.
CÂU CHUYỆN CHÀNG THANH NIÊN THÁI LAN
Truyền thông Thái Lan đưa tin về chàng thanh niên Klanarong Srisakul .
Srisakul vừa tốt nghiệp trường đại học Chulalongkorn danh tiếng của Thái Lan .
Để cảm ơn người bố – một công nhân vệ sinh chuyên chở xe rác tại địa phương, anh chàng đã tìm đến nơi bố làm việc, quỳ rạp xuống đường, ngay phía trước chiếc xe tải chở rác bẩn thỉu.

Trên Facebook, chàng sinh viên đã viết những lời cảm ơn cha, dù rất mộc mạc nhưng tràn ngập yêu thương, cảm kích khiến cộng đồng mạng xúc động mạnh.

“Cha tôi có một công việc mà ông yêu thích. Ông là một người lái xe chở rác. Khi tôi còn là một đứa trẻ, không biết bao nhiêu lần, tôi đã cảm thấy xấu hổ về người cha lam lũ của mình.
Tại sao ông không mặc đồng phục đẹp đẽ hơn, như đồng phục của công an hay bộ đội như những người cha khác?” 
“Sông bên nhau, chúng tôi chia sẻ một giấc mơ. Cha tôi chỉ học đến lớp 4, vì thế ước mơ lớn nhất của ông là tôi được đi học. 
Ông nói với tôi rằng, gia đình tôi chẳng có bất cứ tài sản gì, nhưng ông có thể cho tôi đi học. Tôi muốn trở thành một người lính, nhưng tôi đã không vượt qua kỳ thi đầu vào. Tôi phát hiện ra rằng, cha tôi đã khóc thầm.”

Người con hiếu thảo này chia sẻ, anh được đi học là một điều quá may mắn. Nếu không có người bố quanh năm bám mặt cho những bãi rác bẩn thỉu, có lẽ Srisakul khó có thể hiện thực ước mơ học đại học của mình.

HÃY NHÌN LẠI ĐỂ BIẾT ƠN
Tôi kể thêm một câu chuyện về một gia đình nọ đã có thể tìm ra những phước lành trong lúc thử thách nặng nề. Đây là câu chuyện tôi đọc cách đây nhiều năm và đã giữ câu chuyện đó vì sứ điệp chứa đựng trong đó. Câu chuyện do Gordon Green viết và được đăng trên một tạp chí Mỹ cách đây hơn năm mươi năm.
Gordon kể rằng ông đã lớn lên trong một nông trại ở Canada, nơi mà ông và anh chị em của ông phải vội vã về nhà sau khi đi học về trong khi những đứa trẻ khác chơi banh và đi bơi lội. Tuy nhiên, cha của họ đã giúp họ hiểu rằng công việc của họ đáng giá cho một điều gì đó. Đặc biệt khi gia đình họ ăn mừng lễ Tạ Ơn, vì vào ngày đó, cha của họ cho họ một món quà lớn. Ông bảo họ phải kiểm kê lại mọi thứ mà họ có.
Vào buổi sáng ngày lễ Tạ Ơn, cha của họ dẫn họ đến cái hầm chứa các thùng táo,  củ cải đường, cà rốt và đống bao khoai tây, đậu Hà Lan, bắp, đậu đũa, mứt dâu và những thứ mứt trái cây khác nằm đầy trên kệ tủ của họ. Ông bảo mấy đứa con đếm kỹ mọi thứ. Rồi họ đi ra ngoài kho thóc và tính xem có bao nhiêu tấn cỏ khô và bao nhiêu giạ thóc trong kho thóc. Họ đã đếm những con bò, heo, gà, gà tây và ngỗng. Cha của ông muốn các con của ông thấy  thật sự Thượng Đế đã ban phước cho họ dồi dào biết bao và đã tưởng thưởng cho tất cả những giờ làm việc của họ. Cuối cùng, họ ngồi xuống ăn tiệc do mẹ của họ chuẩn bị, các phước lành là một điều gì đó mà họ cảm nhận được.
Tuy nhiên, Gordon cho biết rằng lễ Tạ Ơn ông nhớ với lòng biết ơn nhiều nhất là cái năm mà dường như họ không có thứ gì để tạ ơn cả.
Năm ấy bắt đầu rất tốt: họ có cỏ khô còn dư, nhiều hạt giống, bốn chuồng heo; và cha của họ có một ít tiền dành dụm để một ngày nào đó ông có thể có đủ khả năng để mua một cái máy nâng cỏ khô—một cái máy tuyệt diệu mà đa số các nhà nông đều mơ ước có được. Đó cũng là cái năm mà điện được câu vào làng của họ—mặc dù không được câu vào nhà họ, vì họ không có đủ khả năng tài chánh để mắc điện.
Một đêm nọ, khi mẹ của Gordon đang giặt một đống quần áo, thì cha của ông bước vào và đến phiên ông giặt đồ trên ván giặt và bảo vợ ông đi nghỉ . Ông nói: “Em đã dành nhiều thời giờ để giặt đồ hơn là ngủ. Em có nghĩ là chúng ta nên tính lại và cho câu điện vào nhà không?” Mặc dù vui mừng trước đề nghị, nhưng mẹ tôi cũng rớm nước mắt khi bà nghĩ đến cái máy nâng cỏ khô mà sẽ giúp chồng và các con đỡ cực nhọc hơn.
Năm đó, đường dây điện được câu vào nhà họ. Họ đã mua một cái máy giặt tự động và những cái bóng đèn sáng rực lủng lẳng từ mỗi trần nhà. Mấy cây đèn dầu được nhanh chóng dẹp vào căn gác.
Việc câu điện vào nông trại của họ gần như là điều tốt cuối cùng xảy ra cho họ vào năm đó.
Ngay khi hoa màu của họ bắt đầu mọc lên khỏi mặt đất, thì mưa bắt đầu đổ xuống. Cuối cùng, khi nước rút đi thì không còn một cây nào sống sót ở đâu cả. Họ trồng trọt lại, nhưng thêm mưa đổ xuống làm các cây hoa màu của họ bị đổ hết xuống đất. Khoai tây của họ mục nát trong bùn. Họ bán đi hai con bò và tất cả các con heo cùng tất cả các gia súc khác mà họ có ý định giữ lại, ra giá rất thấp cho những con vật đó vì mọi người khác đều phải làm như vậy cả. Tất cả vụ mùa của họ vào năm đó chỉ còn lại một thửa củ cải mà bằng cách nào đó đã vượt qua được giông bão.
Rồi lễ Tạ Ơn lại đến. Mẹ của họ nói: “Có lẽ tốt nhất là chúng ta nên quên lễ đó đi năm nay. Chúng ta còn không có một con ngỗng nữa.”
Tuy nhiên, vào buổi sáng ngày lễ Tạ Ơn, cha của Gordon có mặt với một con thỏ rừng và bảo vợ mình nấu. Bà miễn cưỡng bắt đầu và cho biết rằng sẽ mất một thời gian dài để nấu loại thịt thỏ rất dai đó. Cuối cùng khi bàn ăn đã dọn ra với một số củ cải còn sót lại, mấy đứa con từ chối không ăn. Mẹ của Gordon khóc và rồi cha của ông đã làm một điều lạ lùng. Ông đi lên gác, lấy một cây đèn dầu, mang nó xuống để trên bàn và thắp nó lên. Ông bảo con cái tắt đèn điện. Khi chỉ còn lại cây đèn dầu, họ khó có thể tin rằng trước đó nhà của họ đã tối như vậy. Họ tự nghĩ làm sao họ đã có thể thấy được mọi thứ mà không có ánh điện đã được sáng rực.
Thức ăn được ban phước và mọi người đều ăn. Sau bữa ăn, họ cùng nhau ngồi yên lặng. Gordon viết:
“Trong cảnh lờ mờ tối của cây đèn dầu cũ kỹ, chúng tôi đã có thể thấy rõ ràng lại.
“Đó là một bữa ăn tuyệt vời. Con thỏ rừng ăn giống như gà tây, và củ cải đường là ngon nhất như chúng tôi có thể nhớ được.
“Mái gia đình của chúng tôi, tuy thiếu thốn mọi bề, nhưng rất giàu có đối với chúng tôi.”

TAGORE : LÒNG BIẾT ƠN
Rabindranath Tagore: “Hãy cảm ơn ngọn đèn vì ánh sáng của nó, nhưng chớ quên người cầm đèn đang kiên nhẫn đứng trong đêm”. 
Ánh sáng của ngọn đèn tỏa sáng mọi nơi, rọi sáng bóng đêm giúp ta soi rõ mọi vật và không bị lạc lõng trong màn đêm u tối. Nhưng ngọn đèn ấy, ánh sáng ấy không phải tự nhiên mà có. Nó là sự đóng góp thầm lặng của những “người cầm đèn kiên nhẫn đứng trong đêm”. Họ đều là những nguồn cội làm nên hạnh phúc trong cuộc đời ta, khiến ta không còn cái cảm giác sợ hãi trong đêm tối.
Nhưng câu nói của R.Tagore phải chăng còn muốn truyền cho ta một điều gì lớn lao hơn thế? Ngọn đèn kia là thành quả tốt đẹp mà ta được hưởng từ công lao của bao thế hệ trước.  Họ là người mang đến sự sống đầy đủ tiện nghi cho ta nhưng không hiện hữu trước mắt, họ ẩn mình trong bóng đêm – nơi mà ta không nhìn thấy, mà chỉ có thể cảm nhận bằng tâm hồn. Câu nói của R.Tago đã nêu lên một quan niệm nhân sinh đầy tình người.  Nó đã đúc kết nên một nét đẹp về đạo lý, nhắc nhở ta về lẽ sống ân nghĩa, biết trân trọng thành quả, biết tri ân những người làm ra thành quả đó và những hi sinh thầm lặng.
Họ là những anh hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mông mênh
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh,
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước.

Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách
Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên,
Tuy mồ hoang phiêu dạt dưới trời quên
Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật,


Nhưng máu họ đã len vào mạch đất
Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông.
Và anh hồn chung với tấm tình trung
Đã hòa hợp làm linh hồn giống Việt.

Bài thơ “Anh hùng vô danh” của Đằng Phương -Nguyễn ngọc Huyhướng tâm hồn ta về một lẽ sống trọn vẹn  – một lẽ sống ân nghĩa thủy chung.
Đạo lý ấy đòi hỏi chúng ta phải nhớ tới thế hệ đi trươc, thế hệ “người cầm đèn” .
Anh chị em thân mến!
Hãy nhìn lại quá khứ, so sánh với hiện tại:  hiện tại dù tệ hại đến đâu cũng tốt hơn quá khứ của một người tị nạn trắng tay.

Cuộc sống của Chúa Jesus tại thế gian là một di sản tình thương.

  1. Ngài chữa lành người bệnh;
  2. Ngài nâng đỡ người bị áp bức;
  3. Ngài cứu người phạm tội.
  4. Ngài quyết tâm dùng máu mình tẩy sạch tội lỗi của nhân gian.

Cuộc đời 33 nằm trên trái đất, cuối cùng, Ngài đứng một mình.
Một số Sứ Đồ nghi ngờ, bỏ chạy hay đứng xa xa; một người phản bội Ngài.
Quân lính La Mã đánh đập, mắng nhiếc, làm nhục và đóng đinh rồi đâm thủng sườn Ngài.
Đám đông giận dữ đòi lấy mạng sống Ngài.
Tuy nhiên, lời đầy trắc ẩn của Ngài vang lên từ đồi Sọ:

Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì.”
“Người từng trải sự ưu phiền” này là ai? “Vua vinh hiển này là ai?” Chúa của các chúa này là ai? Ngài là Đấng Chủ Tể. Ngài là Đấng Cứu Rỗi của chúng ta. Ngài là Con của Thượng Đế. Ngài là cội rễ của sự cứu rỗi chúng ta.
Ngài mời mọc: “Hãy theo ta.”  Ngài khẩn nài: “Giữ gìn các điều răn ta.” Ngài căn dặn như trăn trối: “Hãy đi, rao giảng Tin lành.”
Chúng ta hãy noi gương Ngài. Chúng ta hãy bắt chước Ngài. Chúng ta hãy vâng theo lời Ngài. Khi làm như vậy, chúng ta dâng lên Ngài lòng biết ơn.
BIẾT ƠN NHIỀU, BIẾT ƠN ÍT
Vì sao có người biết ơn nhiều, có người lại biết ơn  ít?
Để trả lời cho câu hỏi này, bác sĩ Lu-ca có ghi lại trong Kinh Thánh một câu chuyện như sau: “ Có một người Pha-ri-si mời Đức Chúa Jêsus ăn tại nhà mình. Vậy, khi đã vào nhà người Pha-ri-si thì Ngài ngồi bàn. 37Vả, có một người đàn bà xấu nết ở thành đó, nghe nói Đức Chúa Jêsus đang ngồi bàn tại nhà người Pha-ri-si, bèn đem đến một bình ngọc trắng đựng đầy dầu thơm. 38 Người đứng đằng sau, nơi chân Đức Chúa Jêsus, khóc, sa nước mắt trên chân Ngài, rồi lấy tóc mình mà chùi; lại hôn chân Ngài, và xức dầu thơm cho“. (Lu-ca 7:36-38).
Có một người đàn bà với thành tích trụy lạc xấu xa mà cả thành phố ai ai cũng đều rõ mặt, nghe tin Chúa Giê-xu dùng bữa tại nhà của ông Si-môn, người Pha-ri-si, người đàn bà này đã vội vàng tìm đến, đem theo một bình đựng dầu thơm.
Trong lúc Chúa Giê-xu đang dùng bữa, nàng đứng phía sau bên chân Ngài rồi bật khóc.
Có thể nàng đã từng được nghe Ngài giảng dạy về tội lỗi, là những hành vi đi ngược lại với nguyên tắc thánh khiết và đầy yêu thương của Đấng Tạo Hóa, nàng cảm nhận thật sâu sắc về sự nghiêm trọng trong những hành vi xấu xa của mình. Lòng ăn năn và hối hận về dĩ vãng đã khiến nàng không cầm được nước mắt.
Có thể nàng đã được nghe Chúa Cứu Thế Giê-xu giảng dạy về sự tha tội và sự cứu rỗi, như Ngài từng tuyên bố:”Lần này Ta đến trần gian không phải để kết tội, nhưng để cứu vớt“. Lời hứa tha tội của Con Trời đã đem lại cho người đàn bà xấu nết niềm hy vọng lớn lao quá sức mơ tưởng.
Tâm hồn thống hối ăn năn, cộng với tấm lòng biết ơn sâu xa, đã khiến cho nàng không ngăn được dòng nước mắt, khi nàng đứng bên chân Chúa Cứu Thế Giê-xu. Những giọt nước mắt của nàng rớt xuống làm ướt chân Ngài. Nàng xỏa tóc mình ra lau khô, hôn chân rồi xức dầu thơm lên chân Chúa Giê-xu, bất chấp cho đám đông có nghĩ gì về mình.
Thấy vậy, người chủ nhà vô cùng thắc mắc, không biết Chúa Giê-xu có biết quá khứ trụy lạc của nàng hay không, mà lại chấp nhận để cho nàng lau chân và xức dầu thơm như vậy.
Ông Si-môn này trong lòng nghi ngờ, không nhận ra trước mặt mình là Chúa Cứu Thế hay chính là Thiên Chúa Ngôi Hai trong thân xác con người. Ông cũng không nhận ra tấm lòng ăn năn và đầy thống hối của người đàn bà, nhưng ông vẫn còn nhìn nàng với cái nhìn đầy thành kiến về quá khứ của nàng.
Biết được Si-môn, người chủ nhà đang nghĩ gì, Chúa Giê-xu nói với ông qua một ví dụ :
41 Một chủ nợ có hai người mắc nợ: một người mắc năm trăm đơ-ni-ê, một người mắc năm chục. 42 Vì hai người đều không có chi mà trả, nên chủ nợ tha cả hai. Trong hai người đó, ai yêu chủ nợ hơn? 43 Si-môn thưa rằng: Tôi tưởng là người mà chủ nợ đã tha nhiều nợ hơn. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ngươi đoán phải lắm!” (Lu-ca 7:41-43)
Khi đưa ra ví dụ về hai con nợ, một người nợ ít và một người nợ nhiều, chắc chắn Chúa Giê-xu ngầm so sánh thầy Si-môn cao trọng là người mắc nợ ít và người đàn bà với quá khứ trụy lạc là người mắc nợ nhiều. Có người sống đạo đức, biết làm lành lánh dữ, chuyên tâm tu tập. Có người sống buông thả, không chán chê trong tội ác, lường gạt, hại người, tham lam, chiếm đoạt vv.

  1. Tuy vậy, dầu mắc nợ ít hay mắc nợ nhiều, Chúa Giê-xu xếp chung cả hai đều là “con nợ“. Dầu bạn và tôi có đạo đức hay sa đọa, tất cả chúng ta đều đang ở trong tình trạng “mắc nợ” với Đấng Tối Cao, mọi người đều chỉ là tội nhân trước mặt Ngài, như Kinh Thánh khẳng định: “Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” (Rô-ma 3:23)
  2. Tiếp theo nữa, cả hai con nợ, đều không thể tự trả món nợ của mình. Người sa đọa, vô đạo đức thì có tội quá nhiều đã đành; nhưng người có đạo đức, dầu có ra công làm lành, lánh dữ hay tu tập, vẫn không thể nào trọn vẹn, vẫn không thể tự xóa món nợ tội của mình, như Kinh Thánh xác nhận: “Không có một người nào nhờ giữ luật pháp mà được cứu rỗi” (Ga-la-ti 6:12)

Cuối câu chuyện về hai con nợ, Chúa Giê-xu hỏi Si-môn  “giữa người mắc nợ ít và người mắc nợ nhiều, mà cả hai được chủ nợ tha, ai thương mến chủ nợ hơn?”. Câu trả lời thật quá dễ dàng và hiển nhiên, thế nhưng tại sao thầy dạy luật Do-thái này bỗng nhiên đâm ra ngượng ngùng, lúng túng, đến nỗi phải mở đầu câu trả lời một cách dè dặt: “hưm…tôi tưởng rằng…”.
Quý vị thân mến,
Thầy dạy luật Si-môn bỗng nhiên ngập ngừng khi trả lời câu hỏi của Chúa Giê-xu, vì ông đã thoáng nhận ra lời cảnh cáo của Chúa Giê-xu về tình trạng hờ hững và không mấy biết ơn của mình.
Mà đúng vậy, sau câu trả lời của thầy Si-môn, bác sĩ Lu-ca kể tiếp : “ 44 Đoạn, Ngài xây lại người đàn bà mà phán cùng Si-môn rằng: Ngươi thấy đàn bà nầy không? Ta vào nhà ngươi, ngươi không cho nước rửa chân; nhưng người đã lấy nước mắt thấm ướt chân ta, rồi lấy tóc mình mà chùi. 45 Ngươi không hôn ta; nhưng người từ khi vào nhà ngươi, thì hôn chân ta hoài. 46 Ngươi không xức dầu đầu ta; nhưng người lấy dầu thơm xức chân ta“. (Lu-ca 7:44-46)
Đến đây, Chúa Giê-xu kết luận với Si-môn như sau: “47 Vậy nên ta nói cùng ngươi, tội lỗi đàn bà nầy nhiều lắm, đã được tha hết, nên người đã yêu mến nhiều; song kẻ được tha ít thì yêu mến ít.” (Lu-ca 7:47)
Ví dụ của Ngài muốn chỉ ra rằng, người đàn bà xấu nết này ý thức rõ ràng về thực trạng tội lỗi của mình,  nên khi được tha tội thì biết ơn Ngài hơn; còn thầy Si-môn đầy kiêu hãnh thì mù lòa trước thực trạng của mình, cho rằng mình ít tội hơn, chẳng cần nhờ đến sự cứu chuộc của Con Trời, cho nên tự mãn và gần như vô ơn.
Satan là kẻ kiêu ngạo, cho nên bất cứ ai kiêu ngạo thì ít nhiều dính với sa-tan. Vì thế,  tội lỗi nguy hiểm  nhất của một người là lòng kiêu hãnh, khiến tâm linh người đó mù lòa, không nhận ra thực trạng tội lỗi gớm ghê của mình trước mặt Đấng Tối Cao.
Ðức Chúa Trời không chấp nhận sự kiêu ngạo
“ Ta ghét sự kiêu ngạo, xấc xược, con đường ác và miệng gian tà” Châm 8:13
“ Ðức Chúa Trời gớm ghiết kẻ kiêu ngạo” Châm 16:5
“ Kiêu ngạo đi trước, bại hoại đi sau” Châm 16:18
“ Ðức Giê Hô Va sẽ đánh đổ nhà kẻ kiêu ngạo” Châm 15:25
“ Chớ làm sự chi vì lòng tranh cạnh hoặc vì hư vinh nhưng hãy khiêm nhường coi người khác tôn trọng hơn mình” Phi lip 2:3

Kiêu ngạo biến chúng ta thành kẻ vô ơn và thành người của Sa-tan. Đừng sống như kẻ vô ơn là như vậy!
Kính thưa quý vị
Trước hết, phải biết có những điều không được làm, rồi sau mới biết có những điều được làm. 
Nguyên văn: “Nhân hữu bất vi dã, nhi hậu khả dĩ hữu vi“.
Chính là nói về ý thứa đạo đức. Những điều không được làm đương nhiên là điều trái với đạo đức, trái với lương tâm. Chỉ khi con người biết dùng đạo đức để ức chế hành vi, tư tưởng của mình thì mới có thể làm được những việc to lớn khác mà không sợ xảy ra lầm lẫn nào.
Quý vị sẽ làm gì khi nhận ra mình thọ ơn quá nhiều với  Đức Chúa Trời? Quý vị còn chần chờ gì nữa mà không quỳ xuống, tạ ơn Ngài, ăn năn và xin Ngài tha tội.