14. Trị Bệnh Nghi Ngờ

Ma-thi-ơ 28:1-17
1.Sau ngày Sa-bát, ngày thứ nhứt trong tuần lễ, lúc tưng tưng sáng, có Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri khác đến thăm mộ. 2  Và nầy, đất rúng động dữ dội, vì có thiên sứ của Chúa ở trên trời xuống, đến lăn hòn đá ra mà ngồi ở trên.3  Hình dong của thiên sứ giống như chớp nháng, và áo trắng như tuyết.4  Vì đó, những lính canh sợ hãi run rẩy, trở nên như người chết. 5  Song thiên sứ nói cùng các ngươi đờn bà đó rằng: Các ngươi đừng sợ chi cả; vì ta biết các ngươi tìm Đức Chúa Jêsus, là Đấng bị đóng đinh trên thập tự giá. 6  Ngài không ở đây đâu; Ngài sống lại rồi, như lời Ngài đã phán. Hãy đến xem chỗ Ngài đã nằm; 7  và hãy đi mau nói cho môn đồ Ngài hay rằng Ngài đã từ kẻ chết sống lại. Đây nầy, Ngài đi trước các ngươi qua xứ Ga-li-lê; ở đó, các ngươi sẽ thấy Ngài. Ấy, ta đã bảo các ngươi. 8  Hai người đờn bà đó bèn vội vàng ra khỏi mộ, vừa sợ vừa cả mừng, chạy báo tin cho các môn đồ.9  Nầy, Đức Chúa Jêsus gặp hai người đờn bà đó, thì phán rằng: Mừng các ngươi! Hai người cùng đến gần ôm chơn Ngài, và thờ lạy Ngài. 10  Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Đừng sợ chi cả; hãy đi bảo cho anh em ta đi qua xứ Ga-li-lê, ở đó sẽ thấy ta. 11  Trong khi hai người đờn bà đó đi đường, thì có mấy tên lính canh vào thành thuật lại cho các thầy tế lễ cả biết mọi việc đã xảy đến. 12  Các thầy bèn nhóm lại cùng các trưởng lão đặng bàn luận, xong rồi, thì họ cho những lính đó nhiều tiền bạc,13  mà dặn rằng: Các ngươi hãy nói rằng: Môn đồ nó đã đến lúc ban đêm, khi chúng tôi đương ngủ, mà lấy trộm nó đi. 14  Nếu điều ấy thấu tai quan tổng đốc, thì chúng ta sẽ khuyên giải người, và làm cho các ngươi khỏi lo sợ. 15  Mấy tên lính đó lấy bạc, và làm theo như lời. Tiếng ấy đã đồn ra trong dân Giu-đa cho đến ngày nay. 16  Mười một môn đồ, đi qua xứ Ga-li-lê, lên hòn núi mà Đức Chúa Jêsus đã chỉ cho. 17  Khi môn đồ thấy Ngài, thì thờ lạy Ngài; nhưng có một vài người nghi ngờ.

Lễ kỷ niệm Chúa sống lại thường được gọi là “Easter” trong tiếng Anh. Danh từ Easter không hề được dùng trong Thánh Kinh, và cũng không liên quan gì đến sự thương khó, sự chết, hay sự sống lại của Đấng Christ. Tất cả các học giả về Thánh Kinh đều công nhận là danh từ Easter xuất xứ từ ngoại giáo, và là tên của một nữ thần. Vì vậy, con dân Chúa không nên dùng danh từ Easter để gọi lễ kỷ niệm Chúa sống lại. Trong tiếng Việt, chúng ta có danh từ “Lễ Phục Sinh” rất là gợi cảm và đầy ý nghĩa.
Thánh Kinh không hề dạy con dân Chúa phải giữ lễ kỷ niệm Chúa Phục Sinh. Các sứ đồ của Chúa và Hội Thánh ban đầu cũng không giữ lễ kỷ niệm Chúa Phục Sinh.
Bộ Bách Khoa Từ Điển Anh (The Encyclopaedia Britannica) viết về Easter như sau: “Không có dấu hiệu nào cho thấy lễ Easter được cử hành trong Tân Ước, hoặc được đề cập trong các bản thảo của các sứ đồ giáo phụ… Những Cơ-đốc nhân đầu tiên vẫn tiếp tục giữ các ngày lễ của người Do-thái nhưng trong một tinh thần mới, như là một sự ghi nhớ ý nghĩa của những sự kiện mà các lễ ấy làm hình bóng báo trước… Trong khi đó, những Cơ-đốc nhân ngoại tộc Do-thái, không bị ảnh hưởng bởi các truyền thống Do-thái, đã liên kết ngày thứ nhất trong tuần lễ với sự kiện Chúa phục sinh và ngày thứ sáu trước đó thành ngày kỷ niệm sự đóng đinh, bất chấp là ngày nào trong tháng.”
Mãi đến năm 325, Hoàng Đế La-mã lúc ấy là Constantine mới triệu tập Giáo Hội Nghị Nicaea tại thành phố Nicea, và Giáo Hội Nghị đã biểu quyết kể từ đó trở đi toàn cõi Đế Quốc La-mã phải kỷ niệm lễ Easter vào Chủ Nhật đầu tiên sau ngày trăng tròn của tiết Xuân Phân (thời điểm mở đầu mùa Xuân)
Đức Chúa Jesus chỉ truyền đạt cho Hội Thánh có hai lễ, là lễ báp-tem và lễ tiệc thánh. Nhưng nếu chúng ta muốn kỷ niệm sự giáng sinh hay là sự phục sinh của Chúa, tin rằng Chúa không cấm đoán nếu chúng ta không thương mại hóa hoặc không pha trộn các nghi thức cúng tế tà thần của ngoại giáo vào trong lễ kỷ niệm của chúng ta.
Trong tiếng Anh, Easter có nghĩa là gió đến từ phương Đông, nếu dịch theo lối Hán Việt thì Easter = Đông phong. Theo bộ Thánh Kinh Bách Khoa Từ Điển Minh Họa (Pictorial Encyclopedia of the Bible) của nhà xuất bản Zondervan thì danh từ Easter nguyên gốc là Eastre (còn gọi là Eostre), tên nữ thần mùa Xuân của giống dân Teutonic (bao gồm các dân Đức, Anh, và Na-uy).
Theo các tài liệu về ngoại giáo, Eastre là một trong các thần linh được dân Na-uy tôn thờ và sau này là các dân khác tại Châu Âu. Hàng năm, vào đầu mùa Xuân, khoảng tháng tư Dương Lịch, vào ngày trăng tròn, dân Na-uy tổ chức lễ cúng Eastre, vì thế Eastre được xem là Nữ Thần Mùa Xuân và Nữ Thần Mặt Trăng. Tuy nhiên, vai trò chính của Eastre là thổ thần (thần đất) có nhiệm vụ phục hồi sinh lực cho đất sau mùa Đông giá lạnh, khiến cho thực vật đâm chồi, nẩy lộc, đem lại thực phẩm cho thú vật cũng như loài người, và Eastre cũng được xem là thần ban phước cho sự sinh sản của vạn vật.
Huyền thoại cho rằng Eastre thường xuất hiện trong hình dáng của một con thỏ (tượng trưng cho sự sinh sản nhanh chóng và nhiều), vì thế, trong lễ cúng Eastre, một con thỏ cái được dùng làm biểu tượng cho nữ thần. Lễ vật dâng cúng là những quả trứng gà luộc chín, tượng trưng cho quả trứng sáng tạo của vũ trụ và sự tái sinh của vạn vật, cùng với các hoa quả đầu mùa. Eastre chính là nguồn gốc của “Easter Bunny” (Thỏ Phục Sinh) và “Easter Eggs” (Trứng Phục Sinh). Danh xưng Eastre có nghĩa là “đến từ phương Đông” cho nên Eastre còn được xem là Nữ Thần Bình Minh.
Tuy nhiên, theo bộ Tân Cựu Ước Từ Điển Diễn Giải Từ Ngữ Toàn Tập của W.E. Vine (Vine’s Complete Expository Dictionary of Old and New Testament Words) thì Easter chính là nữ thần Át-tạt-tê (Astarte) của người Ba-by-lôn, là Nữ Vương Trên Trời được nhắc đến trong Giê-rê-mi 7:18; 44:17-19, 25; 1 Các Vua 11:5, 33; 2 Các Vua 23:13-15
Tự Điển Bách Khoa Công Giáo (The Catholic Encyclopedia) phối hợp cả hai quan điểm của bộ Bách Khoa Từ Điển Anh và của W.E. Vine để định nghĩa Easter như sau: “Easter: Một từ ngữ tiếng Anh, theo Bede (một tu sĩ vào thế kỷ thứ tám), có liên hệ đến Eostre, là nữ thần ánh sáng bình minh và mùa Xuân của dân Teutonic. Eostre là tên gọi của vùng Châu Âu thời cổ cho cùng một nữ thần được thờ lạy bởi dân Ba-by-lôn, là Át-tạt-tê, hoặc Ishtar, nữ thần sinh sản, là thần mà lễ kỷ niệm trọng thể được tổ chức vào mùa Xuân trong năm.”
Qua ba nguồn tài liệu khác nhau: tài liệu của thế tục, tài liệu của Giáo Hội Công Giáo, và tài liệu của Tin Lành, chúng ta đều thấy rõ lễ kỷ niệm Chúa phục sinh đã bị thần thoại hóa, và ngoại giáo hóa thành lễ Easter!
Là con dân của Chúa, đối với lời Chúa, chúng ta có bổn phận phải “suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong” (Giô-suê 1:8). Chúng ta không thể nghe theo truyền thống của giáo hội mà thờ phượng Chúa theo lễ nghi của ngoại giáo, là điều Chúa đã lên án mạnh mẽ trong Thánh Kinh (Phục Truyền Luật Lệ Ký 12:28-32). Những ai giảng dạy con dân Chúa thờ phượng Chúa theo lễ nghi ngoại giáo sẽ chịu trách nhiệm trước mặt Chúa, nhưng con dân Chúa gác bỏ lời Chúa để chạy theo truyền thống của giáo hội cũng sẽ tự mình gánh trách nhiệm trước Chúa.
Mỗi một con dân Chúa là một thầy tế lễ thánh của Đức Chúa Trời (1 Phi-e-rơ 2:9; Khải Huyền 1:6), đã được thánh hóa bởi huyết báu của Đấng Christ, vậy, chúng ta hãy giữ mình thánh khiết mỗi ngày khi chúng ta ra mắt Chúa và thờ phượng Chúa.
Chúng ta dùng ngày này để làm lễ kỷ niệm ngày Chúa Jesus sống lại, không theo tinh thần ngọai giáo, không theo truyền thống tôn giáo mà theo tinh thần tưởng nhớ đến Chúa Jesus đã chết và đã sống lại. Phải bỏ qua những nghi thức ngọai giáo và bỏ qua những chi tiết không bắt buộc hay không có ghi trong Kinh Thánh.

Thưa Hội Thánh
Trong ngày Chúa Phục sinh, không thể nào không đọc các đọan Kinh văn trong bốn sách Phúc âm. Hôm nay tôi chọn 17 câu trong sách Phúc âm Ma-thi-ơ. Tôi dùng 17 câu này để nói đến những người có đức tin yếu ớt, những người tin Chúa nhưng lòng vẫn còn chút nghi ngờ, những người thỉnh thỏang đến nhà thờ và cho cả những người đã bỏ nhà thờ khá lâu nhưng vẫn còn giữ đức tin. Nghĩa là cho tất cả mọi người. Dĩ nhiên có cả tôi nữa.

Sáng hôm nay, tôi đặt ngay một câu hỏi cho mọi người. Nếu chúng ta có mặt trong ngày phục sinh đầu tiên. Nếu chính quý vị là nhân chứng trong ngày này, quý vị có tin một cách dễ dàng là Chúa Jesus đã sống lại không?

Quí vị chớ vội trả lời. Hãy nghe tôi nói về hai nhóm người liên quan trực tiếp với Chúa Jesus trong thời gian đó và xem thái độ hay phản ứng của hai nhóm người này.

NHÓM 1: CÁC MÔN ĐỒ
Một điều lạ lùng xảy ra qua câu chuyện Chúa Jesus phục sinh mà Ma-thi-ơ ngắn gọn ghi trong câu 16- 17. Đó là thái độ của các môn đồ.
“16  Mười một môn đồ, đi qua xứ Ga-li-lê, lên hòn núi mà Đức Chúa Jêsus đã chỉ cho. 17  Khi môn đồ thấy Ngài, thì thờ lạy Ngài; nhưng có một vài người nghi ngờ.”
Tuần rồi chúng ta khảo sát trường hợp của Thô-ma. Ông không tin vì ông chưa đích thân gặp thấy Chúa. Ông chưa tin vì bản tánh con người của Thô-ma là không tin qua người thứ hai kể lại. Do đó chính Chúa Jesus hiện ra một lần nữa với Thô-ma và Thô-ma vội vàng tin và gọi Chúa là Đức Chúa Trời.
Bây giờ, qua câu 17 này, sau khi Chúa xuất hiện 10 lần , vẫn có một vài người nghi ngờ. Tại sao vậy ?
– Ba năm với những phép lạ mà Giăng mô tả là “ ví bằng người ta cứ từng việc mà chép hết thì ta tưởng cả thế gian không thể chứa hết các sách người ta chép vậy” vẫn chưa đủ để các môn đồ hết nghi ngờ.
– Họ đã chứng kiến ba tiếng đồng hồ giữa trưa mà khắp xứ đều tối đen mù mịt, cái màn trong đền thờ bị xé ra làm hai, đất rúng động, đá lớn bể ra,  mổ mả mở ra… liền xảy ra ngay phút Chúa Jesus trút linh hồn nhưng họ vẫn còn nghi ngờ.
– Họ đã thấy ngơi một trống không, những tấm vải liệm vẫn nằm nguyên y chỗ vẫn chưa đánh tan sự nghi ngờ.
– Ít nhất là 10 lần Chúa xuất hiện trước các môn đồ từ ngày Chúa sống lại vẫn chưa đánh tan được sự nghi ngờ của một vài môn đồ,
– Bốn mươi ngày đi bên cạnh Chúa Jesus sống lại cũng chưa đủ để họ không còn nghi ngờ

Chúng ta thấy các môn đồ này thật quái dị.
Ai biết rõ Chúa Jesus hơn họ ?

Câu hỏi đặt ra cho chúng ta ngày hôm nay là tại sao qua hàng ngàn câu hỏi được giải đáp, qua 960 giờ hội thảo, qua 3 năm 40 ngày chung sống, chứng kiến, dạy dỗ, vài môn đồ vẫn có phản ứng: “ Tôi không tin chắc” “ tôi chưa tin chắc” “Tôi vẫn chưa tin”” tôi vẫn còn nghi ngờ” “I am still not sure”

Chúa Jesus sẽ làm gì đối với những môn đồ này? Biện pháp của Chúa là gì để trị chứng bịnh nghi ngờ này?

Tôi muốn biết và chắc quý vị cũng muốn biết Chúa Jesus sẽ giải quyết mối nghi ngờ này như thế nào. Bởi vì chúng ta vẫn có lúc nghi ngờ, chưa tin chắc, chưa tin hẳn vì

– Chúng ta vẫn còn lo lắng cho ngày mai, cho tương lai và thường tự giải quyết
– Chúng ta vẫn còn nói hành , ngồi lê đôi mách
– Tình nghĩa vợ chồng vẫn còn băng giá lạnh lùng như bắc cực
– Chúng ta vẫn còn phân vân giữa đi thờ phượng và đi làm thêm
– Chúng ta vẫn còn đau khi người chồng cũ điện thọai hỏi thăm
– Chúng ta vẫn còn buồn lòng vì lời giảng của Mục sư, hay của một người nào đó trong Hội Thánh.

Chúng ta thấy sự nghi ngờ của vài môn đồ có cùng một mối tâm tình của chúng ta ngày hôm nay bởi vì có lắm lúc chúng ta cũng nghi ngờ về Chúa như họ.

Do đó chúng ta cần tìm xem bài thuốc của Chúa Jesus dùng để chữa trị căn bịnh nghi ngờ này của các môn đồ và cũng của chúng ta.

Và chúng ta sẽ vô cùng ngạc nhiên khi nghe sự dạy dỗ hay lời dặn dò của Chúa.
Cơng vụ 1:4

“ Lúc ở với các sứ đồ, Ngài dặn rằng đừng ra khỏi thành Giê-ru-sa-lem, nhưng phải ở đó chờ điều Cha đã hứa, là điều các ngươi đã nghe ta nói

Bài thuốc trị bịnh nghi ngờ là “ CHỜ”.
–           Trước khi đi ra ngoài , hãy đứng lại.
–           Trước khi bước tới, hãy ngồi xuống.
Bác sĩ Lu-ca cũng ghi trong sách Phúc âm của ông tương tự như vậy:
“ còn về phần các ngươi, hãy đợi trong thành cho đến khi được mặc lấy quyền phép từ trên cao.” Lu-ca 24:49

Tất cả đều nghe và ở lại , gắng bó với nhau.

14 Hết thảy những người đó bền lòng đồng một ý.
Câu tiếng Anh là ‘ They all met together continually”

Họ, tất cả ở với nhau liên tục.
Họ gồm 120 người ở chung một nhà.

Họ chờ đợi 10 ngày trên phòng cao. Sau 10 ngày đó:

– Những người nghi ngờ trước đây trở thành những tiên tri.
– Phi-e-rơ giảng đạo và nhiều ngàn người đến nghe và 3 ngàn người trở thành Cơ đốc nhân.
Ðức Chúa Trời mở cánh cửa cho ra đời một phong trào lớn nhất trong lịch sử loài người từ trước đến nay.

Chúng ta có thể hành động như họ không?

Tôi không biết rõ tâm tình của từng người nhưng tôi biết thường thì chúng ta rên rỉ than thở khi Chúa bắt chúng ta hãy chờ đợi. Chúng ta thường than thở rằng “Cầu nguyện mấy tháng rồi mà chưa thấy Chúa trả lời.

Nhưng CHỜ khơng có nghĩa là bất động. Chờ nghĩa là trông mong, trông ngóng.

Chờ xe bus tức là trông ngóng chiếc xe bus . Chờ Chúa tức là trông mong, trông ngóng Chúa đến, tìm kiếm Chúa , đặt hy vọng vào Chúa.

Chờ đợi là điều kiện thứ nhất để chữa căn bịnh nghi ngờ.
Một lời hứa lớn cho những ai trông đợi Ngài.  Ê-sai 40:31

Nhưng ai trông đợi Đức Giê-hơ-va thì chắc được sức mới, cất cánh bay cao như chim ưng; chạy mà không mệt nhọc, đi mà không mòn mỏi

Nếu chờ đợi đúng chỗ và hòa thuận với nhau thì điều kiện tiếp theo phải có hành động. Hành động ở đây là sự cầu nguyện.

Hết thảy những người đó bền lòng đồng một ý mà cầu nguyện
Đó là điều mà chúng ta làm trong mỗi Chúa nhật. Mục sư mời quý vị đến đây để thờ phượng Chúa.  Tại đây quý vị gặp Ngài. Điều gì xảy ra trong một giờ rưỡi thờ phượng dù tin hay không tin trong đời sống  mới – tùy thuộc vào cá nhân mỗi người. Nhưng tôi chắc chắn rằng sự nghi ngờ sẽ tan biến khi thờ phượng trừ phi chúng ta chọn giữ nó lại trong lòng như trường hợp mục sư Templeton. Phải tìm cách giải quyết sự nghi ngờ.
Ma-thi-ơ ghi rằng các môn đồ chọn sự thờ phượng Chúa. Và Chúa đến với họ.
Chúng ta mang tất cả sự nghi ngờ, những khó khăn, những  đau buồn, những lo lắng khi đến đây thờ phượng Ngài. Và Ngài đến với chúng ta. Và Ngài trở thành điểm tựa của đức tin của chúng ta.
NHÓM 2: CÁC NGỪƠI LÍNH CANH
Tôi kể trường hợp các anh lính La mã.
Ma-thi-ơ viết rằng các anh lính canh tại ngôi mộ của Chúa chứng kiến mọi điều xảy ra. Họ là những người duy nhất thấy cảnh Chúa sống lại .

(Tuần rồi tôi có nói không ai thấy Chúa sống lại như thế nào và hôm nay tôi nói cho rõ ràng hơn là dù không ai chứng kiến tận mắt giây phút Chúa sống lại nhưng các tên lính canh này là những người sau đó chứng kiến cảnh này. Có thể họ thấy Chúa bước ra, bay ra hay một tia sáng chói ra … Họ không thấy việc xảy ra bên trong ngôi mộ vì họ đứng ngòai ngôi mộ. Nhưng họ là những người duy nhất chứng kiến hiện tượng này)

Ma-thi-ơ viết: “đất rúng động dữ dội, vì có thiên sứ của Chúa ở trên trời xuống, đến lăn hòn đá ra mà ngồi ở trên.3  Hình dong của thiên sứ giống như chớp nháng, và áo trắng như tuyết.4  Vì đó, những lính canh sợ hãi run rẩy, trở nên như người chết.”

Các tên lính này chứng kiến cảnh này. Họ thấy đất rúng động, họ thấy thiên sứ trên trời xuống. Họ thấy các thiên sứ lăn hòn đá và họ thấy Chúa bước ra vì nếu không thì các thiên sứ lăn hòn đá làm gì . Họ thấy Chúa sống lại và họ run rẩy, kinh hải như người chết.

Đáng lẽ ra, khi chứng kiến cảnh lạ lùng , kinh hải như vậy,  họ phải quỳ xuống mà van xin Chúa : “ Lạy Chúa, chúng con đã lỗi lầm đóng đinh Chúa, làm nhục Chúa. Xin Chúa tha thứ cho và bây giờ con tin Chúa là con của Đức Chúa Trời…”

Nhưng điều đó không xảy ra. Và chúng ta biết thêm rằng sau đó bọn lính canh này bỏ ngôi một trống

“  vào thành thuật lại cho các thầy tế lễ cả biết mọi việc đã xảy đến. 12  Các thầy bèn nhóm lại cùng các trưởng lão đặng bàn luận, xong rồi, thì họ cho những lính đó nhiều tiền bạc, 13  mà dặn rằng: Các ngươi hãy nói rằng: Môn đồ nó đã đến lúc ban đêm, khi chúng tôi đương ngủ, mà lấy trộm nó đi. 14  Nếu điều ấy thấu tai quan tổng đốc, thì chúng ta sẽ khuyên giải người, và làm cho các ngươi khỏi lo sợ. 15  Mấy tên lính đó lấy bạc, và làm theo như lời.”. Họ lấy tiền và nói dối.

Thật lạ lùng cho con người.
Chính họ chứng kiến cảnh kinh thiên động địa lạ lùng, chính họ thấy động đất khi Chúa Jesus sống lại, chính họ chứng kiến cảnh thiên sứ sáng ngời đầy hòn đá lấp của mộ. Vậy mà vì tiền, họ phạm thêm tội nói dối.

Như vậy, con người thấy phép lạ chưa chắc đã tin.
Nhiều người cũng giống như các tên lính canh này. Họ chứng kiến phép lạ nhưng vẫn không tin Chúa.

Và cho đến ngày hôm nay, biết bao nhiêu người, sau khi đã làm con dân Chúa, vẫn đi vào con đường của các tên lính canh: lấy tiền và nói dối. Biết bao người thấy phép lạ của Chúa, mà họ không tin.

Đa số con người tin vào một cái gì đó làm cho họ hạnh phúc và họ đeo đuổi theo điều đó. Cũng như các tên lính canh, tiền là điều mà họ tin rằng nếu có nó, họ sẽ được sung sướng. Biến cố Chúa sống lại là một phép lạ dù họ chứng kiến tận mắt, họ vẫn không quan tâm bằng có được tiền và họ đã bỏ cơ hội tối quan trọng để có sự sống đời đời. Họ không ăn năn và không hề để ý đến chân lý.
Chúa Jesus sống lại không ồn ào như lúc Ngài giáng sinh. Không có đòan thiên sứ báo tin mừng, không có ngôi sao sáng chói từ phương đông, không có mục đồng báo tin, không có nhà bác học  đến chiêm ngưỡng. Tại sao vậy ?
Phân tách những lần Chúa xuất hiện, chúng ta sẽ giải tỏa thắc mắc này.
Lần 1: Với Bà Mary Mađơlen: Chúa phải gọi tên bà thì bà mới nhận ra Chúa. Trước đó bà cứ tưởng Chúa là ngươì làm vườn
Lần 2. Chúa xuất hiện trước 10 môn đồ. Giăng 20:19-23 –   Các môn đồ đang lo lắng, run sợ nhóm họp trong phòng cửa đóng chặc. Chúa Jesus mang sự bình an cho họ và họ nhận ra Ngài
Lần 3: Thô-ma, một người có tánh hay nghi ngờ : Chúa đích thân đến với Thô-ma
Lần 4: Phi-e-rơ, con người nóng nảy – chỉ nhận ra Chúa sau khi Chúa làm  phép lạ cá đầy lưới
Lần 5. Với hai môn đồ bi quan, buồn lo trên đường đi đến Emmaus – Chúa ngồi ăn cùng họ, lấy bánh, bẻ ra cho họ thì họ sáng mắt và nhận ra Ngài

CHÚA CHỈ  XUẤT HIỆN VỚI CON DÂN NGÀI
Tôi xin nhắc lại một điểm quan trọng về biến cố Chúa phục sinh:
Không phải ai ai cũng có thể thấy Chúa Jesus trong đời sống của họ.
Những người mà cuộc đời của họ còn thuộc về thế gian sẽ không bao giờ thấy Jesus sau khi Ngài đã sống lại .
Chúa Jesus đã nói trước rằng :
“Còn ít lâu, thế gian chẳng thấy ta nữa, nhưng các ngươi sẽ thấy ta” Giăng 14:19
Phierơ cũng xác nhận thế gian sẽ không thấy Chúa sống lại trong Công vụ 10:40 : “ Ngày thứ ba DCT đã khiến Ngài sống lại,  lại cho Ngài được tỏ ra, chẳng hiện ra với cả dân chúng, nhưng với kẻ làm chứng mà DCT đã chọn trước, là kẻ đã ăn uống cùng Ngài, sau khi Ngài từ kẻ chết sống lại “
CHÚA XUẤT HIỆN NGÀY HÔM NAY
Ngày hôm nay, Chúa cũng áp dụng 5 phương thức đó cho chúng ta và cho loài người để   biết rằng đó chính là Chúa. Chúa đã đến với quý vị và sống cùng quý vị với một trong năm trường hợp sau đây:
–           Ngài gọi tên quý vị, biệt riêng quý vị để làm một công việc gì của Chúa
–           Ngài ban sự bình an mỗi khi quý vị gặp lo buồn, khó khăn
–           Ngài tiếp xúc trực tiếp với chúng ta qua những lúc cầu nguyện
–           Ngài làm phép lạ xảy ra trong cuộc đời của chúng ta để chúng ta nhận ra Ngài
–           Ngài dùng thánh lễ Báp têm, tiệc thánh để chúng ta nhận ra Ngài
Chúa đã chịu chết đau đớn trên cây thập tự . Chúa đã tuyên bố:” Mọi việc đã được trọn” Giăng 16:30 . Tội lỗi của loài người đã được huyết của Chúa lau sạch.
Nhưng Chúa vẫn chưa được nghỉ ngơi.
Ðức Chúa Trời của sự phục sinh lại phải  một lần nữa trong hình hài của con người, trong bộ áo quần xác thịt lòai người đi tìm kiếm những trái tim tan vỡ.
– Ngài đến với chúng ta ngay khi chúng ta đau đớn, khi chúng ta cần.
– Ngài không ngồi, khoanh tay hay sai thiên sứ đến giải quyết, an ủi chúng ta.

Hai môn đồ hy vọng Chúa sẽ đuổi quân lính La mã, đuổi Phi lát đi và Ngài lên thay thế. Nhưng Phi lát vẫn còn đó và Chúa lại bị giết chết trên cây thập tự.
Họ nghĩ đến những điều mà Chúa sẽ phải làm.
Nhưng Ngài không làm như mọi người đã nghĩ. Và họ không vui cũng như ngày hôm nay chúng ta nhiều lúc không vui.
– Làm sao vui được khi mà lời cầu nguyện không được trả lời.
– Làm sao vui được khi những ước vọng rất chính đáng được mang ra giữa Hội chúng cầu xin mà vẫn không được nhận lời.
Trong lúc chúng ta thất vọng với Chúa,  Chúa cũng hỏi chúng ta: Con muốn gì?
Ðó cũng là câu hỏi mà Chúa Jesus đã hỏi hai người môn đồ trên đường đi đến E-ma-út.
–           Việc gì vậy?
–           Tại sao thất vọng chán chường như vậy?
“Đoạn, Ngài bắt đầu từ Môi-se rồi kế đến mọi đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh (câu 27)
CHÚA KỂ CHUYỆN TỪ MÔI SE
– Tại sao Ngài kể chuyện cổ xưa của mấy ngàn năm về trước?
Họ cần nghe để hiểu rằng Ðức Chúa Trời vẫn còn điều khiển vũ trụ này.
“ Khi con tàu hỏa chạy qua một đường hầm, trong toa xe trở nên tối đen nhưng không ai vì thế mà hoảng sợ hay nhảy ra khỏi toa xe. Chúng ta vẫn an tọa vì tin tưởng người lái tàu sẽ điều khiển chiếc xe chạy ra khỏi con đường hầm”
Chúa Jesus kể câu chuyện Ðức Chúa Trời để hai người môn đồ biết người lái tàu vẫn còn điều khiển chiếc tàu.
Ðấng mà họ tưởng đã chết bây giờ đi song song với họ.
Ngài bước vào nhà, ngồi cùng bàn cùng hai người “ lấy bánh, chúc tạ . đoạn bẻ ra và đưa cho họ” . Lòng họ bỗng nhiên rung động
“Mắt họ bèn mở ra, mà nhìn biết Ngài; song Ngài thoạt biến đi không thấy
KẾT LUẬN
Vì chúng ta không còn đủ giờ nên tôi tạm ngưng tại đây để chúng ta cùng dự tiệc thánh.
Dự Tiệc Thánh là một phương cách để chúng ta gặp Chúa.
Chúa sống lại trong chúng ta.
Chúa phục sinh trong đời sống của chúng ta.

Chúa ngày xưa bẻ bánh, chúc tạ và đưa cho môn đồ. Và nhờ vậy mà họ nhận ra Ngài. Ngày nay chúng ta lấy bánh, nước nho này và hãy nhận ra rằng Chúa đang ở cùng chúng ta.
Nhớ lại những gì Ngài đã làm cho nhân loại, cho chúng ta để chúng ta được Ðức Chúa Trời goị là công bình và không những tha thứ mà còn tẩy xóa mọi vấp phạm của chúng ta trong quá khứ, trong hiện tại và trong tương lai.
Ngày Chúa phục sinh không ồn ào như ngày Chúa Giáng sinh nhưng ngày Phục sinh kéo dài cho đến ngày Chúa trở lại, nó kéo dài và âm thầm trong lòng chúng ta , trong lòng mỗi con cái của Ngài.

Chúa sống lại trong lòng chúng ta.
Chúa phục sinh trong lòng chúng ta.