13. Một Vụ Án Lịch Sử

( Mathiơ 26: 57 – 68)

Chúng ta tìm hiểu diễn tiến của vụ xử Chúa Jesus. Vụ án này đã diễn ra qua 3 giai đọan:

–  Giai đọan 1: Liền ngay tối hôm đó, những kẻ bắt Chúa đem Ngài đến nhà của thầy tế lễ cả thượng phẫm Cai-phe, tại đây đã có sẵn các thầy thông giáo và các trưởng lão ( Mathiơ 26:57 -68)
– Giai đọan 2: Vào sáng hôm sau, một  hội nghị gồm các thầy tế lễ cả, trưởng lão để tìm cách giết Chúa ( Mathiơ 27:1-2)
– Giai đọan 3: Sau đó họ trói Chúa và đem nộp cho Phi lát ( Mathiơ 27: 11-26

Câu hỏi quan trọng là bản cáo trạng được lập ra lúc nào, trong buổi họp tối hôm đó hay buổi họp sáng hôm sau của giới chức có thẩm quyền của tòa Công luận ?

Dù do buổi họp nào, họ cũng đã vi phạm luật lệ của họ trong vụ án xử Chúa Jesus.

Chúng ta tìm hiểu chi tiết vụ án lịch sử này và vai trò của Phi Lát trong vụ án giết Chúa Jesus.
Tòa Công Luận là Tối Cao Pháp Viện của người Do Thái.
Thành phần gồm những giáo luật, đạo sĩ, người Sa-đu-sê và các trưởng lão trong dân chúng. Tòa Công luận gồm 71 thành viên. Thầy tế lễ thượng phẩm làm chủ tịch. Ðối với vụ án như thế này, họ chỉ cần một túc số là 23 người.
Một cách tổng quát , chúng ta có thể nêu lên 6 điểm chính mà Tòa Công Luận đã vi phạm những quy tắc và luật lệ do chính họ đặt ra trong vụ án này

  1. Trong cả bốn sách Phúc âm, tiến trình pháp lý của vụ án chống lại Chúa Jesus xẩy ra vào chiều tối của ngày Sa bát. Theo Phúc âm Giăng, hành động của An-ne và Cai Phe chống Chúa xẩy ra trước bữa ăn của ngày lễ Vượt qua; trong ba Phúc âm cộng quan thì việc này xẩy ra sau khi Chúa và các môn đồ ăn xong cơm chiều ( tức là ngày thứ Năm) . Theo luật Misha điều 4.1 cấm Tòa Công Luận phán xử các vụ án trọng tội vào chiều ngày Sa bát hay chiều ngày có tiệc lớn.
  2. Trong Phúc âm Giăng,  dân chúng giải Chúa đến An-ne và một mình ông ta thẩm vấn Chúa không có sự hiện diện của các thành viên khác của Tòa Công Luận.  Luật Misha điều 4.8 chống sự phán xét một mình.
  3. Cuộc phỏng vấn này và phiên tòa xử mô tả trong sách Mác và Mathiơ được xẩy ra ban đêm. Bản cáo trạng được viết trong đêm đó. Luật Misha điều 4.1 quy định rằng, Tòa Công luận  phải dược nhóm họp ban ngày và diễn tiến vụ xử cũng phải được xảy ra trong ngày.
  4. Theo hai sách Mác và Mathiơ, lúc đầu vụ xử, có nhiều chứng dối. Tuy nhiên tòa Công luận không phạt các ngừoi chứng dối này. Theo Misha 5.2 nếu lời chứng mâu thuẫn nhau thì các chứng cớ bị hủy bỏ. Ðiều 11.6, người chứng dối phải bị trừng phạt y như bị cáo, sẽ bị trừng phạt nếu lời chứng không đúng sự thật. Tức là sẽ bị tử hình trong trường hợp này.
  5. Theo sách Mác và Mathiơ thì những lời trả lời của Chúa Jesus qua câu hỏi của thầy cả thượng phẩm bị kết tội là phạm thượng.  Theo Misha 7.5 sẽ không bị tội phạm thượng nếu bị can không nói đến tên vị thần linh. Ðó là điều Chúa Jesus không nói. . Hơn  nữa, khi nghe Chúa Jesus nói và dùng điều nghe đó để buộc tội thì các thành viên vừa là nhân chứng ( nghe Jesus nói) vừa làm công tố viên vi phạm điều 5.4 của luật .
  6. Theo sách Mác và Mathiơ, Thầy cả Thượng phẩm là ngừơi trước nhất công bố Chúa Jesus có tội và thúc giục các thành viên khác kết tội Chúa và đưa đến kết quả là : “ ai nấy đều cho Ngài đáng chết” Mác 14:64.  Luật Misha 4.2 ghi rằng trong vụ án trọng tội,  các thành viên xử án có thâm niên ít nhất sẽ đựơc nêu ý kiến của mình trước nhất để tránh ảnh hưởng của các thành viên thâm niên. Ðiều 4.1 còn ghi thêm rằng các quan xét xử trong vụ án không được nói chuyện hay bàn cãi với nhau. Ngòai ra trong vụ án tử hình, quyết định tử hình không được có cùng trong một ngày xử án. Ðiều này nhằm mục đích  để các dự thẩm có thì giờ suy nghĩ bày tỏ tình yêu thương.

Những nguyên tắc như  vụ án phải được xử ban ngày, không được xử trong mùa lễ Vượt qua. Nếu kết quả vụ án là vô tội thì vụ án được kết thúc trong ngày đó.  Còn không thì vụ án phải chờ ngày hôm sau mới có phán quyết.  Ngòai ra quyết định của tòa Công luận sẽ không có hiệu lực nếu nó không do một phiên họp công khai tại sảnh đường trong đền thờ. Về mặt nhân chứng, mọi chứng cớ phải có hai người bảo đảm và được thẩm vấn riêng rẽ. Người làm chứng gian có thể bị tử hình nếu vụ án liên hệ đến tánh mạng.

Chúng ta thấy các nguyên tắc căn bản nói trên không được Tòa Công Luận tôn trọng trong vụ án xử Chúa Jesus. Rõ ràng tòa Công luận nóng lòng muốn trừ khử Chúa Jesus. Người Do Thái lúc bấy giờ đã ghen ghét Chúa đến mức độ bất chấp mọi thủ đoạn, phương tiện đều đựơc dùng để đạt  mục tiêu là diệt trừ Chúa Jesus.

Công việc chính của tòa Công luận tối hôm đó là lập bản cáo trạng buộc tội Chúa. Như chúng ta biết, họ phải có hai nhân chứng mới có hiệu lực. Họ tìm mãi mà không có được nhân chứng, để cáo buộc. Nhiều ngừơi làm chứng dối nên không giống nhau và không có giá trị. Cuối cùng họ tìm được hai ngừơi tố cáo Chúa Jesus toan phá đền thờ. Rõ ràng lời tố cáo này hoàn toàn xuyên tạc, bóp méo sự thật. Chúa đã tiên tri rằng đền thờ sẽ bị tàn phá và lời tiên tri này đã xảy ra vào năm 70. Họ lấy lời tiên tri của Chúa để kết tội Chúa. Trứơc lời cáo tội đó, Chúa Jesus từ chối trả lời. Theo pháp lý, Chúa Jesus có quyền từ chối trả lời bởi vì trong khi xử án. Bị can nào bị hỏi không buộc phải trả lời nếu câu hỏi đó nhằm buộc tội mình.

Thầy cả thượng phẩm đưa ra một câu hỏi tối quan trọng: “ Hãy chỉ Ðức Chúa Trời mà thề rằng ngươi có phải là Chúa Cứu Thế, Con của Ðức Chúa Trời không?”
Ðây là một câu hỏi không thể không trả lời.
Chúa luôn luôn dặn dò các môn đồ không được tiết lộ cho bất cứ ai biết Ngài là Ðấng Cứu Thế. Tại sao thầy cả thựong phẩm đưa ra một câu hỏi này? Có lẽ Giu đa đã tiết lộ bí mật nàycho thầy cả thuợng phẩm biết.

Chúng ta có thể hình dung một không khí căng thẳng của phòng luận tội khi câu hỏi này được đặt ra.
–          Chỉ cần trả lời “không” thì họ không còn chứng cớ buộc tội, Chúa Jesus sẽ bước ra như một người vô tội và vượt thoát trưóc khi nhóm người trong Tòa Công luận tìm cớ khác để buộc tội Ngài.
–          Ngược lại, nếu Chúa trả lời “phải” thì Ngài tự ký cho mình bản án tử hình. Chỉ cần nói “ phải” là đủ bảo đảm đưa Ngài lên thập tự giá một cách chắc chắn.
Và Chúa Jesus đã trả lời : “thật như lời” có nghĩa là Chúa trả lời “ PHẢI ”. Tiếp thêm Ngài còn trích dẫn trong Ðaniên 7:13-14 về sự đắc thắng và sự tể trị của Ðấng được Ðức Chúa Trời chọn lựa. “ nầy có một người giống như con người đến với những đám mây trên trời, người được ban cho quyền thế, vinh hiển, và nước hầu cho hết thảy các dân, các nuớc , các thứ tiếngđều hầu việc người. Quyền thế người là quyền thế đời đời chẳng qua đi và nước người chẳng bao giờ bị phá hủy.”

Chúa Jesus biết hậu quả của lời xác nhận này. Ngài bị kết án tử hình.
Nhiều người tưởng phiên tòa hôm đó bắt đầu như một phiên tòa hòa giải  nhưng bởi cơn giận mà kết thúc thành một phiên Tòa không còn gì là công chính vô tư, dù nó chỉ có bề ngoài. Thật ra không phải vậy. Các vị lãnh đạo trong Tòa Công Luận đã quyết định tử hình Chúa Jesus từ lâu (Giăng 11:53).

* * *
Tôi nhớ lại phiên tòa án nhân dân đã nhóm tại sân vận đông Cần thơ để xử vụ án Hồ ngọc Cẩn, đại tá Tỉnh trưởng Chương Thiện của VNCH hồi tháng 6 năm 1975. Tôi xin tóm lượcbài tường thuật của Vi An đăng trên báo Hồn Việt tháng 12, 1976. Bài báo mô tả khung cảnh tại vận động trường Cần thơ. Người tham dự đông đảo gồm những binh sĩ “ ngụy” đang bị học tập tại khóm được dự kiến để làm gương, những ông 30, các anh bộ đội với khuôn mặt tái xanh, nhỏ người giọng nặng. . . Bỗng tiếng còi rú lên. Một chiếc GMC đi đầu, tiếp là xe bít bùng chắc là xe chở tội nhân, sau là hai xe Jeep chở người và một chiếc GMC khác. Mọingười thấy các chú bộ đội hì hục khiêng một chiếc quan tài màu đỏ sậm làm bằng thứ gỗ thô rẻ tiền
“ Chưa xử sao lại đem hòm vào? “
“ Ủa vậy là đã có bản án rồi sao?
Tội nhân được dẫn vào giữa toán lính võ trang. Tay bị trói thúc ké phía sau, đầu hơi cúi xuống, bộ đồ vải đen hơi chật so với thân hình cao lớn, bộ râu quai nón lâu ngày không cạo. Tội nhân đi thong thả, lặng lẽ giữa đám áo xanh tiến về hàng cột.
. . . Sau hơn 15 phút tâng bốc đảng, ca tụng Bác, nhân vật này  nhấn mạnh kẻ nào chống chế độ là chống nhân dân sẽ được biết thế nào là sức mạnh của chuyên chế, của cách mạng. Sau đó với giọng hằn học, một vị khác buộc tội đại tá Cẩn đã ngoan cố chống cự hơn bốn ngày sau khi toàn nứơc đã bàn giao. Vị chủ tọa là ngừơi có quyền sinh sát cuối cùng hỏi đại tá Cẩn rằng sao không tuân theo lịnh bàn giao, sao cho nổ phá hủy kho đạn… Ông Cẩn đã trả lời với giọng thản nhiên:
“ Tôi bận chiến đấu, không có thì giờ nghe thông cáo đầu hàng. Là chiến sĩ, tôi không có quyền hạ cờ khi còn phương tiện chiến đấu. Tôi thua, các ông thắng, hòa bình tới rồi, giữ kho đạn vô ích nên tôi phá hủy”
Người nghe nở cả ruột gan, nếu không sợ hậu quả có lẽ họ đã vỗ tay hét lên thỏa thích. Ðồng chí chủ tọa tức giận buộc tội đại tá Cẩn ngoan cố và yêu cầu xử tử. “ nhân dân” là thành phần được học tập trước ráng gân cổ hô to: “ có tội, xử tử”
Cách đây 36 năm,  đứng truớc anh hùng Hồ ngọc Cẩn, người dự khán sẽ có hai thái độ: cảm phục hay bực tức tùy theo phe phái chính trị.
Ngày hôm nay, khi đối diện trước Chúa Jesus, loài người cũng sẽ có hai thái độ: yêu mến Chúa hay ghen ghét Chúa.

* * *

“ Sáng hôm sau, các thầy tế lễ cả và các trưởng lão trong dân hội nghị để chống Chúa Jesus và để giết Ngài. Khi đã trói Ngài rồi, họ đem nộp cho Phi Lát là quan Tổng đốc” Mathiơ 27:1-2
Ðây là một phiên họp chớp nhoáng của Tòa Công luận vào buổi sáng sớm để hoàn tất một bản cáo trạng chính thức và cuối cùng. Họ phải chuyển vụ án này cho Phi Lát, quan Tổng đốc vì tòa Công luận chỉ có quyền quyết định một án bình thường. Quyền tử hình thuộc về viên Tổng đốc La mã là Phi Lát.

Sứ đồ Mathiơ không ghi nội dung bản cáo trạng. Buổi họp tối hôm qua cho chúng ta biết Chúa Jesus bị tố cáo về tội toan phá đền thờ, tội phạm thượng liên hệ đến tín ngưỡng. Nếu chỉ do tội phạm thượng thì chắc chắn Phi  lát sẽ không lãnh xử vì nó thuộc về tôn giáo và sẽ trả vụ án này về lại Tòa Công luận vì do tranh chấp tín ngưỡng mà thôi. Vì vậy chúng ta cần tìm kiếm thêm nội dung bản cáo trạng là gì và Chúa Jesus buộc tội gì.
Sách Lu-ca 23:2 có ghi lời tố cáo về các tội phạm chính trị như sau: “Chúng tôi thấy ngườinày xui dân ta làm lọan, cấm nộp thuế cho Sê-sa và xưng mình là vua”
Ở đây chúng ta thấy đựơc cái độc ác của các người lãnh đạo luật pháp Do Thái. Tại  Tòa Công Luận, tội danh của Chúa Jesus là phạm thượng nhưng khi chuyển nội vụ đến quan Tổng đốc thì họ đã thay đổi thành ba trọng tội chính trị là xúi dân làm loạn, xúi dân không đóng thuế và muốn làm vua. Họ ngụy tạo, họ giả dối vì chỉ những tội đó thì Phi lát mới chú ý và trong thẩm quyền của ông.

Phi lát không muốn kết án Chúa Jesus.

  1. Phi lát biết Chúa Jesus không phải là người muốn làm vua, muốn làm cách mạng chống chế độ lệ thuộc
  2. Phi lát muốn tìm lối thoát bằng cách phóng thích một tù nhân nhưng đám đông từ chối phóng thích Jesus nhân lành mà chọn Ba-ra-ba hung bạo
  3. Phi lát trốn trách nhiệm bằng cách giao nội vụ cho vua Hê rốt vì Chúa Jesus là người Ga-li-lê. Ga li lê là phần lãnh thổ dưới quyền cai trị của vua Hê rốt và Hê rốt đang có mặt tại Jerusalem để dự lễ Vượt qua.
  4. Tuy nhiên vua Hê rốt không chú ý lắm về vụ án này nên trao lại cho Tổng đốc Phi Lát.

Qua các câu Kinh văn trong sách Lu-ca chúng ta thấy Phi lát không muốn kết án Chúa Jesus vì Ngài không có tội. Bốn lần từ chối vì không tìm  ra tội danh nào để tử hình:

  1. lần thứ nhất người Do Thái hãy tự mình giải quyết ( Giăng 19:6)
  2. Trao vụ án cho vua Hê rốt
  3. Khuyên dân chúng coi Chúa Jesus như một tội nhân được hưởng ân xá nhân dịp lễ Vượt qua
  4. Dung hòa bằng cách đánh đòn rồi tha

Nhưng Phi lát bị các thầy tế lễ cả, truởng lão, giáo luật và dân chúng cưỡng ép kết án tử hình.
Tại sao một quan Tổng đốc lại có thể bị những viên chức bị đô hộ cuỡng ép được?
Theo công lý của La mã, dân địa phương có quyền báo cáo về triều đình về quan Tổng đốc của họ nếu vị này cai trị sai luật và vị Tổng đốc đó có thể bị nghiêm trị.
Tổng đốc Phi lát đã vấp phạm hai lỗi lầm lớn trong thời gian cai trị vùng Palestine này nên bây giờ là lúc ông cần lấy lòng người  Do Thái.

Lần thứ nhất: các quân đội La Mã mang cờ có  in hình đương kim hòang đế. Hòang đế dược coi như là một thần linh. Luật Do Thái cấm mọi thứ hình tuợng. Vì muốn kiêng nể luật Do Thái nên các Tổng đốc tiền nhiệm của Phi lát đều cho tháo gở hình Hoàng đế truớc khi đoàn quân diễn hành vào Jerusalem. Riêng Phi lát nhất định không làm như vậy, ông cho quân La mã tiến vào  Jerusalem với lá cờ có hình tượng Hoàng đế. Dân Do Thái xuống đường phản đối. Họ lũ lượt kéo xuống Sê-sa-rê là nơi La mã đóng quân và yêu cầu tháo gở các hình tượng. Ông từ chối. Họ tiếp tục kêu nài trong nhiều ngày. Ðến ngày thứ sáu, ông đồng ý gặp họ trong một khoảng đất trống có lính của ông vây chung quanh. Ông tuyên bố rằng nếu họ tiếp tục biểu tình thì ông sẽ giết ngay.  Ðám dân tự nằm dài xuống đất và sẵn sàng chịu chết hơn là luật pháp của họ bị vi phạm. Phi lát không thể giết hết mọi người nên ông phải nhượng bộ. Biến cố này nếu được báo cáo về triều đình Phi lát sẽ bị khiển trách vì sô đẩy dân chúng nổi giận chống lại chính quyền cai trị.

Lần thứ hai: Phi lát lấy tiền của đền thờ để xây hệ thống mới cung cấp nước cho nội thành. Dù mục đích tốt nhưng việc dùng tiền của Ðền thờ khiến dân chúng nổi giận và họ cầm vũ khí chống lại. Phi Lát cho lính của ông cải trang trà trộn trong dân chúng dùng gậy đánh và phân tán họ. Vì bọn lính hành động hung bạo gây thiệt mạng cho một số dân chúng.
Phi-lo, một học giả Do Thái nổi tiếng ở Alexandria đã nghiên cứu về Phi lát có viết như sau: Do thái đe dọa sẽ sử dụng quyền hạn của họ để phúc trình mọi hành động sai lầm của Phi lát và Phi lát hết sức bực tức nhưng cũng lo ngại dân Do Thái cử đặc sứ đến gặp Hòang đế để tố cáo những nhũng lạm, tàn bạo, làm nhục dân chúng, giết người trái phép, và nhiều hành vi phi nhân khác”.
Hình ảnh một Phi lát Tổng Ðốc đáng thương hại hơn là ghét bỏ trước áp lực, đe dọa của dân chúng Do Thái qua sự xúi biểu của các nhân vật lãnh đạo Tòa Công luận. Ông là một con người bị quá khứ ràng buộc đến nỗi không thể làm chủ được điều phải làm và muốn làm.

* * *

Chúng ta đều biết cuối cùng Phi lát ra lịnh tử hình Chúa Jesus và giao cho lính đóng đinh Ngài. Chúng ta thấy hình thức của vụ án hoàn toàn bất hợp lệ, nội dung để buộc tội của họ hoàn toàn vô căn cứ. Viên Chánh án Phi lát đã bốn lần muốn tha nhưng vẫn kết án vì bị áp lực cá nhân.  “Mọi việc đã xảy ra để được trọn” Giăng 19:28
Có một câu chuyện chung quanh cái chết của Chúa Jesus để chúng ta suy gẫm. Ðó là câu chuyện về anh tướng cướp biết ăn năn:
Tôi không biết có thiên sứ gác cửa thiên đàng hay không, nhưng nếu có thì câu chuyện sau đây có lẽ đã xảy ra.
Thiên sứ: Xin mời ông ngồi. Bây giờ , cho tôi biết  anh tên là …. Cướp. Làm sao anh được cứu để lên đây?
Cướp: Tôi chỉ hỏi Jesus nhớ đến tôi khi ông ấy về nứơc của ổng. Thật ra tôi không ngờ việc xảy ra quá nhanh như vậy.
Thiên sứ: Vâng, được rồi. Làm sao anh biết Jesus là vua?
Cướp: Có một bảng hiệu gắn trên đầu Jesus ghi rằng: “ Jesus , người xứ Na xa rét, là vua của Do Thái” tôi đọc bảng hiệu đó tôi tin là thật và tôi được lên đây!
Thiên sứghi chép và quyển sổ nhỏ : Tin vào một bảng hiệu
Cướp: Dạ đúng như vậy.  Bảng hiệu đó chắc do một người tên là Giăng gắn lên.
Thiên sứ: Chăc không phải do Giăng đâu
Cứơp: Vậy thì chắc do một môn đồ khác tên là Phi-e-rơ
Thiên sứ: Không, cũng không phải Phi-e-rơ đâu
Cướp: Vậy môn đồ nào làm việc đó?
Thiên sứ: Bộ nhà ngươi  thật sự không biết sao? Bảng hiệu đó do Phi lát ra lịnh làm và treo lên đó.
Cướp: Thật khó tin, tại sao Phi lát?
Thiên sứ: Ðừng ngạc nhiên. Ðức Chúa Trời đã từng dùng bụi gai để gọi Môi se, và dùng con lừa để kết án một tiên tri. Dùng con cá to để Giô na thay đổi ý kiến.  Không có ai mà Chúa không dùng cả cho công việc Ngài. Ðược rồi, đem giấy tờ này qua phòng bên cạnh. Ngươi đã biết theo bảng hiệu mà lên đây thi hãy tiếp tục theo dấu của bảng ghi để hòan tất thủ tục ở thiên đàng. Chúc ngươi phước hạnh .

* * *

Phi lát đâu có ý định loan truyền Phúc âm. Sự thật là ông ta muốn chế giễu dân Do Thái có một vua như tên thợ mộc này, một tử tội bị xử án đóng đinh. Một quốc gia có một vị vua như vậy đó. Nhưng Ðức Chúa Trời có mục tiêu khác. Phi lát chỉ là đồ vật trong tay của Ðức Chúa Trời.  Bảng hiệu đựơc đóng lên để cứu một người vừa đọc.
* * *
Quý vị nghe câu chuyện này có nghĩ rằng đời mình phải có một lần mình làm một bảng hiệu dù dưới danh xưng nào cũng được để có một người đọc để cứu một người.  Chúng ta nên làm một người phát truyền đạo đơn vì sẽ có hơn một người đọc được danh Chúa Jesus.

Chúa Nhật tuần sau, HT sẽ có một lễ Phục sinh. Quý vị tự nghĩ có nên kéo một người đến nghe đề tài : Tại sao tôi tin Chúa của tôi đã sống lại? Không có Giáo chủ nào sống lại ngoại trừ Chúa Jesus. Nếu Chúa Jesus không sống lại, nhân loại sẽ không có đạo Chúa và chúng ta là những kẻ ngu dốt, bất hạnh nhất.
Vậy thì tại sao quý vị tin Chúa Jesus đã sống lại?
Tôi sẽ đưa ra những chứng cớ khoa học, chứng tích lịch sử với những lý đoán cụ thể thiết thực để chứng minh điều chúng ta tin.
Hãy mời cho được một người bạn, một thân nhân, người hàng xóm đến tham dự Lễ Phục sinh của chúng ta.
Không có ai mà Ðức Chúa Trời không cần dùng.
Kể cả Phi Lát trong một vụ án lịch sử của nhân loại
Dù muốn tránh, dù muốn từ chối, Phi lát cũng vẫn phải kết án tử hình vì ông làm Tổng Ðốc.
Chúng ta dù có muốn hay không muốn vẫn phải mang người đến với Chúa vì chúng ta là một cơ đốc nhân.
Trừ phi quý vị từ chối danh dự này. Tôi không tin điều này đâu.

Bài sau15. Đức Chúa Trời Làm Điều Chi Cho Tôi
Bài trước16 Cẩm Nang Cho Lúc Khó Khăn